- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp thay đổi người nuôi con"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.
- Căn cứ chính? Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2025/HNGĐ-ST Ngày: 20-5-2025 V/v “ Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hoàng Thị Cúc
Các hội thẩm nhân dân:
Bà Ngô Thị Thúy Hảo
Ông Đặng Song Hoàn
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Quỳnh, cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.
Ngày 20 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 70/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2025 về “ Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn”.Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2025/QĐXx-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Đặng Văn T, sinh năm 1983 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Số F đường L, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1987 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
HKTT: Số A đường L, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố B, Công an tỉnh B.
NỘI DUNG VỤ ÁN :
1.Theo đơn khởi kiện,bản tự khai nguyên đơn- ông Đặng Văn T trình bày:
Ông và bà H trước đây là vợ chồng nhưng đến ngày 25-5-2020 thì chính thức ly hôn theo bản án số 23/2020/HNGĐ-ST của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.Theo quyết định của bản án thì bà H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Đặng Thanh D, sinh ngày 10-4-2015. Tuy nhiên, hiện nay bà H đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố B liên quan đến vụ án xảy ra tại Công ty cổ phần Đ, theo Quyết định khởi tố bị can số 270/QĐ-VPCQSĐT ngày 02-12-2024 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B. Ông bà ngoại già yếu, không thể chăm sóc được cháu D nên ông yêu cầu thay đổi người nuôi con để tiện cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng cháu D.Ông không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con.
Về điều kiện nuôi con: Ông có việc làm ổn định, hiện đang là giảng viên, làm việc giờ hành chính nên ông có đủ điều kiện về kinh tế và thời gian chăm sóc cháu D.
2.Tại bản tự khai, bị đơn – bà Nguyễn Thị Thu H trình bày:
Như ông T trình bày trước đây bà và ông T là vợ chồng nhưng đã ly hôn theo bản án số 23/2020/HNGĐ-ST của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu. Trong quá trình nuôi con, bà vẫn làm tròn trách nhiệm của một người mẹ là lo cho con ăn học và không để cháu D thiếu một thứ gì. Do hiện nay bà đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố B nên không thể chăm sóc cho cháu D được. Để thuận lợi cho việc học hành và ổn định cuộc sống của cháu, bà đồng ý để ông T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu D và ông T không được ngăn cản gia đình bà thăm gặp cháu D.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
. Ông Đặng Văn T có đơn khởi kiện thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn với bà Nguyễn Thị Thu H, bà H có nơi cư trú tại thành phố V nên xác định đây là vụ án hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu theo quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa bà H và ông T đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bà H và ông T.
.Về nội dung khởi kiện: Ông Đặng Văn T và bà Nguyễn Thị Thu H có một người con chung là Đặng Thanh D, sinh ngày 10-4-2015. Theo Quyết định của bản án số 23/2020/HNGĐ-ST của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, bà H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Đặng Thanh D, sinh ngày 10-4-2015. Ông T có quyền thăm nom con không ai được cản trở.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình quy định việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.”
Tại điểm a, b khoản 2, khoản 3 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình quy định thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn “ Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây: a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con; b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên”.
Quyền nuôi con, chăm sóc con là quyền chung của cha và mẹ, cha mẹ đều có quyền và nghĩa vụ như nhau trong việc nuôi dưỡng và chăm sóc con chung. Khi vợ chồng ly hôn thì việc giao con cho vợ hoặc chồng trực tiếp nuôi dưỡng phải xuất phát từ quyền lợi của người con, căn cứ vào điều kiện hoàn cảnh, khả năng của các bên và căn cứ vào quy định của pháp luật.Việc giao con cho ai nuôi phải đảm bảo cho cháu có điều kiện tốt nhất để phát triển cả về thể chất, tinh thần, nhân cách.
Xét điều kiện, khả năng của các bên thì thấy: Ông Đặng Văn T có mức lương ổn định, công việc làm giờ hành chính nên đủ khả năng về mặt vật chất và thời gian để nuôi dạy con.
Bà Nguyễn Thị Thu H hiện nay đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố B nên không có khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu D. Mặt khác, bà H cũng đồng ý để ông T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu D nên yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con của ông T được chấp nhận. Ông T không yêu cầu cấp dưỡng nên Tòa án không xem xét. Sau này ông T và bà H còn được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật. Bà H và ông T phải có trách nhiệm phối hợp nhau trong việc chăm sóc và dạy dỗ cháu D được tốt hơn, nhằm cho cháu được hưởng quyền lợi tốt nhất từ cha và mẹ, tránh làm ảnh hưởng đến quá trình phát triển bình thường của trẻ thơ.
. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Đặng Văn T tự nguyện nộp theo quy định pháp luật.
V các trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình. Điều 28, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 5, Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Văn T với bà Nguyễn Thị Thu H, về việc: “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn”.
Ông Đặng Văn T được quyền trực tiếp nuôi con chung tên là Đặng Thanh D, sinh ngày 10-4-2015 . Bà H không phải cấp dưỡng nuôi con. Bà H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở.
Trên cơ sở lợi ích của con, C, Mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
2. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Đặng Văn T nộp 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002672 ngày 11-02-2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu. Ông T đã nộp xong án phí.
3.Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15(mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo15(mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Tòa án nhân dân tỉnh BRVT; -Viện kiểm sát nhân dân TPVT;
- Chi cục thi hành án dân sự TPVT;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án./
Hoàng Thị Cúc
[[
| Nơi nhận: -TAND Tỉnh BR-VT; -VKSND TPVT; -THA DS TPVT; -UBNDF11; - Đương sự; -Lưu hồ sơ. | TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Th m phán-Ch toạ phiên toà. Hoàng Thị Cúc |