- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Hữu N phạm tội Trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI TP. HÀ NỘI -------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2024/HS - ST Ngày: 17/4/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:
Bà Trần Thị Kim Cúc
Các Hội thẩm nhân dân :
1. Bà Phạm Thị Trinh
2. Bà Nguyễn Anh Thư
Thư ký phiên tòa:
Ông Trần Hải Minh
- Thư ký Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai
Đại diện VKSND quận Hoàng Mai - TP Hà Nội tham gia phiên tòa:
Đặng Văn Sỹ - Kiểm sát viên
Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại phòng xét xử trực tuyến trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Trì - thành phố Hà Nội, Toà án nhân dân quận Hoàng Mai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 59/2024/HSST ngày 22/3/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐXXST - HS ngày 27/3/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Hữu N, sinh năm: 1989; HKTT: xã H, huyện T, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt N; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Văn hóa: 12/12; Giới tính: N; Con ông: Nguyễn Hữu Đ và bà Nguyễn Thị N; Vợ là Lê Thị C và có 02 con sinh năm 2011 và 2014; Nhân thân: 0 tiền sự; 01 tiền án: Bản án số 107/2021/HSST ngày 24/5/2021, Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xử phạt 33 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 07 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, chấp hành xong bản án từ ngày 30/9/2023.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/01/2024 và hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố Hà Nội (có mặt).
Người bị hại: Ông Vũ Văn Đ, sinh năm 1967
Nơi thường trú: xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương.
Nơi ở hiện tại: phường Yên S, quận H, Hà Nội.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Vũ Thị Y, sinh năm 1996
Nơi thường trú: xã Hồng P, T, Hải Dương
Nơi ở hiện tại: phường Yên S, quận H, Hà Nội.
( cùng vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19h30 ngày 11/01/2024 Công an phường Yên S, quận H, thành phố Hà Nội tiếp nhận tin báo của anh Vũ Văn Đ (sinh năm 1967; HKTT: C, T, Hải Dương; Nơi ở hiện nay: H, Hà Nội) trình báo về việc khoảng 19h00 cùng ngày anh Đôi có để chiếc xe máy BKS 34F1-195.74 ở lòng đường trước tòa chung cư Y, H, Hà Nội. Công an phường tiến hành tiếp nhận tin báo và tiến hành tuần tra kiểm soát, rà soát địa bàn. Đến khoảng 20h00 cùng ngày tại trước cổng trường THCS Y2, Y, H, Hà Nội, tổ công tác CAP Y phát hiện 01 N thanh niên đang đẩy 01 chiếc xe máy có trùng đặc điểm do bị hại cung cấp, tổ công tác tiến hành kiểm tra hành chính. Tại chỗ N thanh niên khai tên Nguyễn Hữu N (Sinh năm 1989, HKTT và nơi ở: H, T, Hà Nội). Và khai nhận chiếc xe máy trên đối tượng vừa trộm cắp tại chung cư Y, đang trên đường dắt chiếc xe đi cất giấu thì bị tổ công tác Công an phường kiểm tra đưa về trụ sở để làm rõ.
Ngày 12/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Hoàng Mai tiến hành khám xét nơi ở của Nguyễn Hữu N tại H, T, Hà Nội nhưng không phát hiện thu giữ đồ vật tài liệu gì khác. (BL;39)
Quá trình điều tra Nguyễn Hữu N khai nhận: Bản thân do nợ nần, túng thiếu nên nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản. Khoảng 19h ngày 11/01/2024, N bắt xe grap đi đến Y, H, Hà Nội. Lúc đi vào khu chung cư Y, khi đi đến vỉa hè tòa nhà phát hiện chiếc xe máy nhãn hiệu Vision BKS: 34F1-195.74, không có ai trông giữ, cũng không khóa cổ, khóa càng. Lúc này N nảy ra ý định trộm cắp chiếc xe trên, sau đó đi vào dắt chiếc xe trên đi vào ngõ và dùng tuốc nơ vít để tháo mặt nạ xe và đấu ổ điện để nổ máy đi. Tuy nhiên không đấu được điện, nên xe không nổ được máy, N tiếp tục dắt xe và đi tiếp. Khi đi trước cổng trường THCS Y2, Y, H, Hà Nội thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, bắt giữ và đưa về trụ sở để làm rõ.
Vật chứng của vụ án đã thu giữ của Nguyễn Hữu N:
+ 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision BKS: 34F1-195.74 số máy: JF58E0318966, số khung: 5806EY433190.
+ 02 con ốc vít loại 4 cạnh đều nhau dài 01 cm.
+ 01 chiếc tuốc nơ vít màu đỏ, đen dài khoảng 20cm, loại 2 đầu, một đầu 2 cạnh, một đầu 4 cạnh.
+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu đen, số Imei: 359202071663669.
+ 01 chiếc áo mưa màu xanh.
Cơ quan điều tra đã yêu cầu định giá đối với tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án. Tại Kết luận định giá tài sản số 34 ngày 22/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Hoàng Mai kết luận: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision BKS: 34F1-195.74 số máy: JF58E0318966, số khung: 5806EY433190 đã qua sử dụng trị giá 12.000.000 đồng. (BK: 27,28).
Cơ quan CSĐT – CAQ Hoàng Mai đã trưng cầu phòng KTH-CATP Hà Nội giám định số khung, số máy đối với chiếc xe mô tô trên. Phòng KTHS-CATP Hà Nội có kết luật giám định số 1369 ngày 07/02/2024 kết luận: Xe máy nhãn hiệu Honda Vision BKS: 34F1-195.74 gửi giám định có số khung, số máy là nguyên thủy. (B1:35)
Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision BKS: 34F1-195.74 số máy: JF58E0318966, số khung: 5806EY433190 quá trình điều tra xác minh chủ sở hữu là Chị Vũ Thị Y (sinh năm 1996; HKTT: xã Hồng P, T, Hải Dương; Nơi ở: Y, H, Hà Nội). Quá trình giải quyết vụ án, cơ quan điều tra đã quyết định xử lý vật chứng trả lại Chị Vũ Thị Y chiếc xe máy vật chứng đã thu giữ nêu trên. Sau khi nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, chị Yến không yêu cầu bồi thường thêm khoản nào khác.
Đối với 01 chiếc tuốc nơ vít màu đỏ, đen dài khoảng 20cm, loại 2 đầu, một đầu 2 cạnh, một đầu 4 cạnh; 01 chiếc áo mưa màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu đen, số Imei: 359202071663669; chuyển Chi cục thi hành án Dân sự quận Hoàng Mai để chờ xử lý.
Bản cáo trạng số 56/CT - VKS ngày 20/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu N về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà: bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu trên, thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố các bị cáo là đúng, không oan, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo mức án từ 16 đến 20 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy: 01 tuốc nơ vít, 01 áo mưa .Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hoàng Mai, Điều tra Viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của người bị hại và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 11/01/2024, tại tòa chung cư Y, H, Hà Nội, Nguyễn Hữu N đã có hành vi lén lút, lợi dụng sơ hở của bị hại, xe không có người trông giữ, không khoá cổ, khoá càng để trộm cắp xe máy nhãn hiệu Honda Vision BKS: 34F1-195.74 màu xanh đã qua sử dụng trị giá 12.000.000 đồng do ông Vũ Văn Đ quản lý và bị phát hiện, bắt giữ cùng vật chứng.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố bị cáo ra trước Tòa án để xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ pháp lý.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý lo lắng hoang mang trong quần chúng nhân dân, do đó cần thiết phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự mới đủ giáo dục cho bị cáo.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: bị cáo có 01 tiền án: tại bản án số 107/2021/HSST ngày 24/5/2021, Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xử phạt 33 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 07 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, bị cáo mới chấp hành xong bản án ngày 30/9/2023. Phạm tội lần này là tái phạm nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 điều 52. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử với vụ án này, bị cáo đã khai báo thành khẩn nên Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Xét các bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về phần dân sự và các vấn đề khác: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision BKS: 34F1-195.74 số máy: JF58E0318966, số khung: 5806EY433190 (xe đã qua sử dụng) đã thu hồi trả bị hại. Bị hại đã được nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với điện thoại di động của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo. Đối với chiếc áo mưa không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ. Đối với tuốc nơ vít màu đỏ, đen dài khoảng 20cm, loại 2 đầu, một đầu 2 cạnh, một đầu 4 cạnh là công cụ phạm tội nên tịch thu tiêu huỷ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 173, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Căn cứ: Điều 106, Điều 136; Điều 290; Điều 331; Điều 333 Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí lệ phí Tóa án; Mục 1 phần I Danh mục án phí Tòa án.
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Hữu N phạm tội Trộm cắp tài sản.
Xử phạt: Nguyễn Hữu N: 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/01/2024.
Hình phạt bổ sung: miễn phạt tiền cho bị cáo
Xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu đen, số Imei: 359202071663669. Tịch thu tiêu huỷ: 01 áo mưa màu xanh, 01 tuốc nơ vít màu đỏ, đen dài khoảng 20cm, loại 2 đầu, một đầu 2 cạnh, một đầu 4 cạnh.
(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàng Mai theo phiếu nhập kho vật chứng số NK2024 - 0105 ngày 21/3/2024 )
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án phần có liên quan đến mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TANDTP Hà Nội, VKSNDTP Hà Nội - Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, TP Hà Nội; - Công an quận Hoàng Mai , TP Hà Nội; - Cơ quan Thi hành án hình sự quận Hoàng Mai, TP Hà Nội; - Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàng Mai, TP Hà Nội; - Trại tạm giam số 2 - Bị cáo. - Lưu VP; HS | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Kim Cúc |