- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị M yêu cầu ly hôn với anh S, con chung không cấp dưỡng, tài sản chung, nợ chung không có"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Sỳ M về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” với anh Hỷ Chánh S.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2024/HNGĐ-ST Ngày: 29/5/2024 V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM - TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Xuân Dậu.
Ông Đặng Quang Hoạch.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Cao Văn Bình – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 1180/2023/TLST-HNGĐ ngày 11/12/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 65/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10/5/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Sỳ M, sinh năm: 2000.
HKTT: Ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Anh Hỷ Chánh S, sinh năm: 1998.
HKTT và cư trú: Ấp T, xã S, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
(các đương sự vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Theo đơn khởi kiện, biên bản làm việc có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Trần Sỳ M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hỷ Chánh S kết hôn tự nguyện và đăng ký kết hôn tại UBND xã S, huyện T vào năm 2021. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn từ việc anh S không quan tâm gia đình, không phụ chị tiền để nuôi con, nhiều lần anh S đi ăn nhậu về thì chửi bới chị, mâu thuẫn giữa vợ chồng nhưng bố mẹ chồng không thông cảm mà bảo vệ chồng nên mâu thuẫn càng trầm trọng hơn, tháng 8/2023 chị có nộp đơn ly hôn và sau đó rút đơn để cho anh S cơ hội thay đổi nhưng anh S vẫn không thay đổi, thực tế anh chị đã sống riêng từ năm 2022. Hôn nhân không còn hạnh phúc nên chị yêu cầu được ly hôn với anh S.
Về con chung: Có 01 con chung là cháu Hỷ Ngọc V, sinh ngày 09/12/2021. Ly hôn chị yêu cầu được nuôi cháu V và không yêu cầu anh S cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Vì bận công việc nên chị xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
- Bị đơn anh Hỷ Chánh S trình bày:
Anh S vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên không có trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, thủ tục hòa giải, thời hạn chuẩn bị xét xử, quyết định xét xử; việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng được Tòa án thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
Về đường lối giải quyết vụ án: Đơn khởi kiện xin ly hôn của chị M là có cơ sở chấp nhận nên đề nghị cho chị được ly hôn với anh S. Về con chung: Giao con chung cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, tạm thời anh S không phải cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung, nợ chung đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét. Về án phí: Chị M phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Chị Trần Sỳ M nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con với anh Hỷ Chánh S, sinh năm: 1998, địa chỉ: Ấp T, xã S, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì quan hệ là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.
Về thủ tục tố tụng:
Chị M nộp đơn đúng trình tự thủ tục nên được thụ lý, giải quyết.
Chị M có đơn xin xét xử vắng mặt, anh S đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt các đương sự.
Về yêu cầu khởi kiện:
3.1 - Về quan hệ hôn nhân:
Chị M và anh S tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn, được UBND xã S, huyện T cấp giấy chứng nhận kết hôn số 45 ngày 17/11/2021 nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình giải quyết vụ án, chị M kiên quyết yêu cầu được ly hôn với anh S, hiện nay vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, hôn nhân không hạnh phúc; năm 2023 chị đã nộp đơn ly hôn sau đó rút đơn; vợ chồng đã sống riêng từ năm 2022; đồng thời, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh S để làm việc, hòa giải, hàn gắn nhưng anh S vắng mặt không có lý do, thể hiện việc anh không có thiện chí hòa giải, đoàn tụ. Từ những căn cứ trên, xét mâu thuẫn giữa anh S và chị M là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị M yêu cầu ly hôn với anh S là có cơ sở chấp nhận và phù hợp quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
3.2 - Về con chung: Có 01 con chung là cháu Hỷ Ngọc V, sinh ngày 09/12/2021. Trường hợp ly hôn, chị M yêu cầu được nuôi con chung và tạm thời không yêu cầu anh S cấp dưỡng. Xét chị M có công việc ổn định, cháu V đang sống cùng chị, cháu V dưới 36 tháng tuổi và quá trình giải quyết vụ án anh S luôn vắng mặt nên để đảm bảo cuộc sống ổn định cho cháu, Hội đồng xét xử giao cháu V cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, tạm thời anh S không phải cấp dưỡng nuôi con.
3.3 - Tài sản chung, nợ chung: Đương sự trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Chị M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, 35, 39, 147, 220, 228, 264 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 8, 9, 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Sỳ M về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” với anh Hỷ Chánh S.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Sỳ M được ly hôn với anh Hỷ Chánh S.
2. Về con chung: Giao cháu Hỷ Ngọc V, sinh ngày 09/12/2021 cho chị Trần Sỳ M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; tạm thời anh Hỷ Chánh S không phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh Hỷ Chánh S được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung khi cần thiết các đương sự được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
4. Về án phí: Chị Trần Sỳ M phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình nhưng trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006266 ngày 05/12/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. Chị Trần Sỳ M đã nộp đủ án phí.
5. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAT, THA,VKS; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hương |