- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Trần Thị Minh T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2024/HNGĐ-ST Ngày: 23-9-2024 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Ngọc Thành
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Thắm
Bà Phạm Thị Lan
- Thư ký phiên tòa: Bà Quách Thị Khuyến là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường B - Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 425/ 2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 85/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Minh T, sinh năm 1985
Địa chỉ: 936/1, ấp T, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Minh N, sinh năm 1982
Địa chỉ: 09/D, ấp P, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
(Bà T và ông N vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 06 tháng 6 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn – bà Trần Thị Minh T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Minh T và anh Nguyễn Minh N quen biết, tìm hiểu yêu thương nhau khoảng 01 năm và tự nguyện kết hôn, được UBND xã P, huyện Đ cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 24/03/2008. Đây là hôn nhân lần thứ nhất của bà T.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, đầm ấm tuy nhiên từ năm 2014 đến nay vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, bất hòa. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau. Ông N không lo lắng quan tâm đến gia đình mà thường xuyên nhậu nhẹt say xỉn về nhà kiếm chuyện chửi bới, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của bà T dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng. Nhiều lần vợ chồng đã ngồi lại nói chuyện để hàn gắn tình cảm nhưng vợ chồng vẫn không tìm được tiếng nói chung.
Từ khi nộp đơn ly hôn ngày 10/6/2024 đến nay thì bà T đã chuyển về nhà cha mẹ đẻ sống. Kể từ đó đến nay vợ chồng không sống chung nhà với nhau, không ai quan tâm đến ai, việc ai nấy làm. Vợ chồng không nói chuyện với nhau và cũng không bàn bạc hàn gắn tình cảm đoàn tụ.
Nay bà T xác định đã hết tình cảm với ông N, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được nên bà yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Minh N.
Về con chung: Vợ chồng 03 (ba) con chung là cháu Nguyễn Trần Minh T, sinh ngày 08/8/2008, Nguyễn Trần Minh T, sinh ngày 12/01/2013, Nguyễn Trần Minh T, sinh ngày 22/3/2017. Khi ly hôn bà T yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục ba con chung. Tạm thời bà T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay nghề nghiệp của bà T làm buôn bán, thu nhập trung bình mỗi tháng là 10.000.000đ (mười triệu đồng) đủ khả năng nuôi dưỡng các con chung.
Về tài sản: Bà Trần Thị Minh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ riêng: Không có
Bị đơn - anh Nguyễn Minh N vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm:
- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án được thực hiện đúng với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng cả nguyên đơn và bị đơn đều không đến tham dự (nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt không rõ lý do) nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về nội dung vụ án:
+ Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Trần Thị Minh T và ông Nguyễn Minh N được ly hôn.
+ Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao 03 con chung là cháu Nguyễn Trần Minh T, sinh ngày 08/8/2008, Nguyễn Trần Minh T, sinh ngày 12/01/2013, Nguyễn Trần Minh T, sinh ngày 22/3/2017 cho bà Trần Thị Minh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời ông Nguyễn Minh N không phải cấp dưỡng nuôi con do bà T không yêu cầu.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét.
+ Về án phí: Bà Trần Thị Minh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Kiểm sát viên không kiến nghị khắc phục hay bổ sung gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn yêu cầu ly hôn và tranh chấp về người trực tiếp nuôi con chung với bị đơn, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Theo kết quả xác minh, hiện bị đơn đang cư trú tại xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc xét xử vắng mặt các đương sự: Tại phiên tòa, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt (nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt không rõ lý do). Căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Minh T và ông Nguyễn Minh N tiến tới hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được UBND xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 24/3/2008. Căn cứ các Điều 9, 11 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, quan hệ hôn nhân của bà T và ông N là hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, nhận thấy: Bà T xác định tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ không có, bà T và ông N đã xảy ra mâu thuẫn, theo bà T trình bày thì mâu thuẫn vợ chồng là do ông N không lo lắng, quan tâm đến vợ con mà thường nhậu nhẹt say xỉn về nhà kiếm chuyện chửi bới bà T dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng và phải sống ly thân. Lời khai này của bà T mặc dù không được ông N thừa nhận do ông N không hợp tác đến Tòa án làm việc. Tuy nhiên lời khai này của bà T phù hợp với biên bản lấy lời khai ngày 02/7/2024 ông Nguyễn Ngọc P (bố ruột của ông N) :“... Về việc mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh N thì gia đình tôi không nắm được rõ tuy nhiên theo tôi được biết thì anh N thường bị bạn bè rủ rê nhậu nhẹt say xỉn, nhiều lúc say xỉn không kiềm chế được bản thân nên chửi bới chị T ...”. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã nhiều lần tổ chức hòa giải để kêu gọi vợ chồng về đoàn tụ gia đình nhưng ông N không đến thể hiện việc ông N không có thiện chí hàn gắn tình cảm với bà T.
Từ các phân tích trên, xét mâu thuẫn giữa bà T và ông N đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của bà T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.
Về con chung: Bà T và ông N có 03 (ba) con chung là cháu Nguyễn Trần Minh T, sinh ngày 08/8/2008, Nguyễn Trần Minh T, sinh ngày 12/01/2013, Nguyễn Trần Minh T, sinh ngày 22/3/2017. Hiện các con chung do bà T trực tiếp nuôi dưỡng, đồng thời các con chung cũng có nguyện vọng được sống chung với bà T.
Xét việc nuôi con chung sau khi ly hôn, Hội đồng xét xử nhận thấy: Quá trình vợ chồng bà T và ông N xảy ra mâu thuẫn phải sống ly thân các con đều do bà T nuôi dưỡng, hiện các con chung có nguyện vọng sống cùng với mẹ. Do vậy, cần tiếp tục giao ba con chung cho bà T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục nhằm đảm bảo điều kiện phát triển bình thường, khỏe mạnh về thể chất và tinh thần, không làm xáo trộn cuộc sống hiện tại của con trẻ là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T hiện có nơi ở, công việc và thu nhập ổn định, đủ điều kiện để chăm sóc cho con chung. Mặc dù đã được Tòa án giải thích pháp luật về nghĩa vụ cấp dưỡng nhưng bà T không yêu cầu nên tạm thời anh Tuyền không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà T xác định không có nợ chung và tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; ông N vắng mặt nên không có ý kiến trình bày; do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Trường hợp các đương sự không tự thỏa thuận và có yêu cầu thì được quyền liên hệ với Tòa án có thẩm quyền để khởi kiện bằng một vụ kiện khác về tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn.
Về án phí: Bà Trần Thị Minh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất về đường lối giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 238; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng các Điều 9, 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 131 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Trần Thị Minh T.
1. Về hôn nhân: Xử cho bà Trần Thị Minh T và ông Nguyễn Minh N được ly hôn.
2. Về con chung:
2.1. Giao các cháu Nguyễn Trần Minh T, sinh ngày 08/8/2008, Nguyễn Trần Minh T, sinh ngày 12/01/2013, Nguyễn Trần Minh T, sinh ngày 22/3/2017 cho bà Trần Thị Minh T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
2.2 Ông Nguyễn Minh N được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng nuôi con.
2.3 Tạm thời ông Nguyễn Minh N không phải cấp dưỡng nuôi con do bà Trần Thị Minh T không yêu cầu.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Bà Trần Thị Minh T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ từ tiền tạm ứng án phí sang nộp án phí theo biên lai thu số 0007963 ngày 06 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai. Bà Trần Thị Minh T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Thống Nhất; - CC THADS huyện Thống Nhất; - UBND xã Phú Cường, huyện Định Quán; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Ngọc Thành |