vanban.org

Bản án 61/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Hồ Thúy V:

1/ Về quan hệ hôn nhân: chị Trương Hồ Thúy V được ly hôn anh Võ Thành Q. 2/ Về nuôi con chung: không có. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa Trương Hồ Thuý V với Võ Thành Q"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Hồ Thúy V:
  • Căn cứ chính? Điều 09 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MT
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2024/HNGĐ-ST.
Ngày: 07-8-2024
“ V/v Xin ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Tám.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Thành Long.

2/ Ông Nguyễn Đinh Cường.

- Thư ký phiên tòa:Bà Lê Thị Thanh Thủy - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít không tham gia phiên tòa.

Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở TAND huyện Mang Thít xét xử công khai vụ án thụ lý số: 39/2024/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 03 năm 2024 ,về tranh chấp Hôn nhân và gia đình: Xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trương Hồ Thúy V, sinh năm 1992 ( xin vắng mặt).

Địa chỉ: ấp M. Xã C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

2. Bị đơn: Anh Võ Thành Q, sinh năm 1989 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 05/3/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trương Hồ Thúy V trình bày:

- Về hôn nhân: chị V và anh Q do quen biết tìm hiểu, đi đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán năm 2022 và được Ủy ban nhân dân xã T, cấp giấy chứng nhận kết hôn số 51 ngày 03/11/2022.

Sau ngày cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân do chị V và anh Q không hợp tính tình, thường xuyên cự cải bất đồng quan điểm. Gia đình cha, mẹ hai bên đã hòa giải, khuyên cang nhiều lần để chị V và anh Q đoàn tụ cùng chăm lo cho gia đình nhưng không thành. Từ đó mâu thuẫn giữa chị V và anh Q ngày càng trầm trọng, không khắc phục được nên chị V bỏ về nhà mẹ ruột ở xã C từ tháng 04/2023 cho đến nay, mỗi người có cuộc sống riêng, không ai còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Nay chị V nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Võ Thành Q.

- Về con chung: không có.

- Về tài sản chung, nợ phải thu, nợ phải trả: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã thông báo cho anh Võ Thành Q biết việc thụ lý vụ án cũng như các yêu cầu khởi kiện của chị V, nhưng anh Q không có văn bản trả lời, không có yêu cầu phản tố và vắng mặt tại các phiên hòa giải, công khai chứng cứ, các phiên tòa mặt dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Võ Thành Q đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không rõ lý do, chị Trương Hồ Thúy V có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ theo quy định tại Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án quyết định xét xử vắng mặt chị V và anh Q.

Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị V và anh Q sống chung với nhau có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 09 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị V và anh Q là hợp pháp. Trong quá trình chung sống đã có phát sinh mâu thuẫn không thể khắc phục được nên sống ly thân từ tháng 04/2023 cho đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Chị V xác định vợ chồng chung sống thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cự cải nhau, không hợp tính tình, không thể đoàn tụ. Từ đó, chị V không còn tình cảm với anh Q, không có khả năng đoàn tụ, đã chứng minh tình trạng hôn nhân giữa chị V và anh Q có mâu thuẩn trầm trọng nên chị V yêu cầu ly hôn với anh Q. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã cấp tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về các phiên hòa giải, công khai chứng cứ và giấy triệu tập tham dự phiên tòa cho anh Q hợp lệ nhưng anh Q không đến tham dự các phiên hòa giải, các phiên họp công khai chứng cứ, các phiên tòa mà không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến của anh Q đối với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị V“ Theo quy định tại khoản 2, khoản 4 Điều 91, Khoản 2 Điều 92 của Bộ Luật tố tụng dân sự 2015”. Do đó, xét thấy trong cuộc sống vợ chồng giữa chị V và anh Q đã phát sinh mâu thuẩn trầm trọng, không khắc phục được, do tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên chấp nhận cho chị V được ly hôn với anh Võ Thành Q.

Về con chung: không có.

Về tài sản chung, nợ phải thu, nợ phải trả: không có, không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Buộc chị V phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 và các Điều 227; 228, 238; 266; 267 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 09, 56, 57 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử :

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Hồ Thúy V:

1/ Về quan hệ hôn nhân: chị Trương Hồ Thúy V được ly hôn anh Võ Thành Q.

2/ Về nuôi con chung: không có.

3/ Quyền và nghĩa vụ về tài sản chung, nợ phải thu, nợ phải trả: không có, không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

4/ Án phí: Buộc chị Trương Hồ Thúy V phải chịu 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí nguyên đơn đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít, theo biên lai thu số 0005679 ngày 05/03/2024, chị V không phải nộp thêm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ