vanban.org

Bản án 61/2023/HSST — Hình sự

TAND Q. Ba Đình, TP. Hà Nội Tuyên án 30/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đ 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/02/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? * Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BA ĐÌNH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2023/HSST
Ngày 30 tháng 5 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung.

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Quang Tuấn

2. Ông Nguyễn Hải Hà

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy Linh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phượng- Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2023, tại Phòng xét xử trực tuyến tại Trại giam số 1 – Công an thành phố Hà Nội và Phòng xét xử trực tuyến tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân quận Ba Đình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 57/2023/TL - HSST ngày 10 tháng 5 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 143/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2023 đối với:

* Bị cáo Nguyễn Thành Đ, sinh năm: 2003; Hộ khẩu thường trú: Huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình và nơi ở: Không nơi ở cố định. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Họ và tên bố: Nguyễn Văn H, sinh năm 1977; Họ và tên mẹ: Trần Thị L, sinh năm 1981. Gia đình bị cáo có hai anh em, bị cáo là con thứ nhất. Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 27/02/2023. Hiện đang tạm giam tại trại giam số 1- Công an Thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 2003. Hộ khẩu thường trú: Huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Địa chỉ: Phường Kim Liên, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trà Minh T, sinh năm 1993. HKTT: Phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thành Đ không có việc làm, lang thang không có nơi ở cố định và thường xuyên chơi game tại các cửa hàng điện tử. Ngày 22/02/2023, Đ xin làm nhân viên phục vụ tại quán lẩu A địa chỉ số X/YY Đông Tác, phường Kim Liên, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội và bắt đầu thử việc từ ngày 23/02/2023. Đ tự giới thiệu tên là Quang A và có tên gọi khác là T, đồng thời che giấu tên thật của mình. Trong quá trình làm việc, Đ quen biết anh Nguyễn Văn S (sinh năm 2003, HKTT: Huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định) cùng làm nhân viên tại quán lẩu A. Biết anh S sử dụng điện thoại Iphone 12 Promax, do không có tiền tiêu sài nên Đ nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại của anh S. Ngày 25/02/2023, Đ nhờ anh S chở đi lấy điện thoại đang sửa tại địa chỉ phường Đội Cấn, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội (thực tế Đ không có điện thoại phải sửa). Khi đến nơi, Đ đi vào cửa sau quán điện tử số X Ngọc Hà (cửa này nằm bên trong ngõ Y Ngọc Hà), lúc sau Đ quay ra mượn máy điện thoại Iphone 12 promax của anh S nói dối để truyền dữ liệu sau đó đi vào cửa sau số X Ngọc Hà rồi đi thẳng ra cửa trước, bắt xe ôm grap đến địa chỉ ở Hoàng Hoa Thám, Vĩnh Phúc, Ba Đình, Hà Nội để bán chiếc điện thoại Iphone 12 pro max với giá 3.000.000 đồng cho anh Trà Minh T (sinh năm 1993, HKTT: phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội). Đ dùng số tiền bán được điện thoại tiêu sài cá nhân hết.

Ngày 27/02/2023, Đ đang đi bộ trên phố Ngọc Hà thì bị công an bắt giữ.

* Vật chứng thu giữ:

- 01 ĐTDĐ Iphone 12 pro max, màu xanh đã qua sử dụng, phần ốp lưng bị vỡ. Số Imei: 351232993451115.

Theo Bản kết luận định giá tài sản số 21/KLĐG-HĐĐGTS ngày 09/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự - UBND quận Ba Đình kết luận: “01 chiếc ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh đã qua sử dụng, phần ốp lưng bị vỡ, trị giá 12 triệu đồng.”

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thành Đ đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên. Lời khai nhận của Đ phù hợp lời khai của người bị hại, người liên quan, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác trong quá trình điều tra.

Đối với anh Trà Minh T, quá trình điều tra xác định anh T không liên quan đến hành vi phạm tội của Nguyễn Thành Đ nên Cơ quan điều tra không xử lý. Đối với số tiền 03 triệu đồng anh Tuấn mua điện thoại của Đ, anh T không yêu cầu Đ bồi thường dân sự.

Đối với 01 ĐTDĐ Iphone 12 pro max, màu xanh đã qua sử dụng, phần ốp lưng bị vỡ (Imei: 351232993451115), Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh S, anh S nhận tài sản và không yêu cầu bồi thường về dân sự.

Tại bản cáo trạng số 52/CT-VKS ngày 08/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành Đ về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo qui định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Ngày 25/02/2023, tại khu vực cửa sau nhà số X ngõ Y phố Ngọc Hà, phường Đội Cấn, quận Ba Đình, Hà Nội, Nguyễn Thành Đ có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản là 01 ĐTDĐ Iphone 12 pro max màu xanh, trị giá 12 triệu đồng của anh Nguyễn Văn S. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Thành Đ về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đ từ 12 đến 15 tháng tù.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Buộc bị cáo truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền 3.000.000đồng.

Anh Nguyễn Văn S đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường dân sự nên không xem xét.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thành Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình và lời nói sau cùng trước khi hội đồng xét xử vào nghị án bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ :

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Ngày 25/02/2023, tại khu vực cửa sau nhà số X ngõ Y phố Ngọc Hà, phường Đội Cấn, quận Ba Đình, Hà Nội, Nguyễn Thành Đ có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản là 01 ĐTDĐ Iphone 12 promax màu xanh, trị giá 12 triệu đồng của anh Nguyễn Văn S.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bản thân bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự tại thời điểm phạm tội, có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ. Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thành Đ đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình theo Bản cáo trạng và Lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Thành Đ cấu thành tội ‘‘Lừa đảo chiếm đoạt tài sản’’ theo quy định tại Khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự 2015. Bản cáo trạng và Lời luận tội của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình truy tố và kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Thành Đ không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy thái độ của bị cáo Nguyễn Thành Đ tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa tỏ ra ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo, bị cáo Đ phạm tội lần này là lần đầu và người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên áp dụng quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Về nhân thân của bị cáo Nguyễn Thành Đ: Là thanh niên đang trong độ tuổi lao động nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng rèn luyện đạo đức nên đã đi vào con đường phạm tội. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Nguyễn Thành Đ không đủ điều kiện để được tự cải tạo ngoài môi trường xã hội bình thường, mà cần thiết phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 174; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đ từ 12 đến 15 tháng tù là có căn cứ; Do đó Hội đồng xét xử áp dụng Điều 38 của Bộ luật hình sự buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn.

Bị cáo Nguyễn Thành Đ không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo theo quy định tại Khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự:

Anh Nguyễn Văn S đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường dân sự nên không xem xét.

Anh Trà Minh T không yêu cầu Đ trả lại số tiền 3.000.000 đồng. Tuy nhiên, xét số tiền bị cáo bán điện thoại là số tiền bị cáo do phạm tội mà có nên cần truy thu sung công quỹ nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo; Người bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

* Về tội danh và hình phạt:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 174; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015;

Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sư, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đ 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/02/2023.

- Truy thu số tiền 3.000.000đ (ba triệu) đồng của bị cáo để sung công quỹ nhà nước.

* Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

* Về quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 1,4 Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015;

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày 30 tháng 5 năm 2023./.

Người bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày được tống Đ hợp lệ bản án./.

Cỡ chữ