vanban.org

Bản án 61/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 22/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Trần Minh S phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm , s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Trần Minh S 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31/01/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TRẦN MINH SƠN - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Trần Minh S phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2023/HS-ST
Ngày: 22/3/2023

NHÂN DANH

NUỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lưu Triều

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Viết Sáu

2. Ông Nguyễn Bính

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Minh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Giang Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 25/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 56/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2023 đối với ị cáo:

Trần Minh S, Giới tính: Nam, Sinh năm: 15/3/1975, Tại: Bình Thuận, Nơi thường trú: Khu phố 4, phường Đức T, thành phố Phan T, tỉnh Bình Thuận, Chỗ ở: Khu phố 3, phường Phú T, thành phố Phan T, tỉnh Bình Thuận, Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không, Trình độ học vấn: 02/12, Nghề nghiệp: Lao động iển, Cha: ông Trần L, sinh năm 1938, đã chết, Mẹ: bà Võ Thị M, sinh năm 1938, Trú tại: Khu phố 4, phường Đức T, thành phố Phan T, tỉnh Bình Thuận, Anh chị em ruột có 07 người, ị cáo là con thứ 4 trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không, Nhân thân: Ngày 26/07/2012 ị Chủ tịch Ủy an nhân dân tỉnh Bình Thuận ra Quyết định số 35/QĐ – UBND đưa vào trường giáo dưỡng, thời hạn 24 tháng. Bị cáo ị ắt và tạm giữ theo Quyết định truy nã số 02 ngày 21/12/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phan Thiết từ ngày 31/01/2023 sau đó chuyển tạm giam, hiện đang ị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Phan Thiết. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: bà Hoàng Thị C - sinh năm 1944 (có đơn xin vắng mặt)

Trú tại: Khu phố 3, phường Phú T, thành phố Phan T, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 18/9/2021 Trần Minh S đang ngồi nhậu trước nhà tại khu phố 3, phường Phú T, thành phố Phan T thì xảy ra cãi nhau với à Hoàng Thị C là hàng xóm của S. Trong lúc cãi nhau, S lấy 01 cái àn nhựa màu đỏ đang ngồi nhậu có kích thước 63 cm x 43 cm x 50 cm cầm trên tay phải đi đến phía sau lưng à C rồi đánh 01 cái theo hướng từ sau ra trước trúng vào vùng đầu làm bà C té ngã xuống đất ất tỉnh. Sau khi gây thương tích cho à C, S đi về lại nhà còn bà C được người dân đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Thuận.

Ngày 27/9/2021, bà C có đơn yêu cầu giám định thương tích và xử lý hình sự đối với Trần Minh S

Vật chứng của vụ án:

Thu giữ từ Trần Minh S 01 cái àn nhựa màu đỏ, có kích thước 63cm x 43cm x 50cm.

Tại B n kết luận giám định pháp y về thương tích số 95/2022/TgT ngày 15/02/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Thuận, kết luận đối với bà Hoàng Thị C:

+ Vết thương – chấn thương vùng chẩm phải, xuất huyết dưới nhện án cầu não hai ên đã được điều trị, hiện ổn định, để lại sẹo lành vùng chẩm phải kích thước 4 x 0,3 cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 10% + 2%.

+ Không thấy nứt sọ trán phải và dập, xuất huyết não trán hai ên, xuất huyết liềm não trước trên hai phim CT – Scanner sọ não (ngày 18/9/2021 chụp tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Thuận và ngày 12/01/2022 chụp tại Bệnh viên đa khoa An Phước) theo hai kết quả hội chẩn. Không đủ cơ sở xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể.

+ Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên cho à Hoàng Thị C hiện tại là 12%.

+ Vết thương – chấn thương do vật tày gây ra.

+ Vết thương – chấn thương có chiều hướng tác động từ sau ra trước, với lục tác động mạnh.

+ Hiện tại không xác định cố tật.

Xử lý vật chứng và dân sự:

Đối với 01 cái àn nhựa màu đỏ, có kích thước 63cm x 43cm x 50cm là công cụ phạm tội, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết để ảo quản chờ xử lý.

Quá trình điều tra, Trần Minh S đã ồi thường cho à Hoàng Thị C 7.500.000 đồng chi phí điều trị thương tích, tại đơn xin xét xử vắng mặt ngày 17/3/2023 bà C yêu cầu S ồi thường thêm số tiền 17.000.000 đồng và xin giảm nhẹ hình phạt cho C.

Tại ản Cáo trạng số 23/CT-VKS ngày 01/3/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố ị cáo Trần Minh S về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên Quyết định truy tố ị cáo Trần Minh S về tội Cố ý gây thương tích và đề nghị:

Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm , s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Xử phạt Trần Minh S từ 24 tháng đến 30 tháng tù.

Người ị hại là à Hoàng Thị C vắng mặt tại phiên tòa nhưng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bà C xác định vết thương trên cơ thể là do ị cáo Trần Minh S gây thương tích nên. Hiện nay ị cáo đã ồi thường 7.500.000 đồng nên bà C yêu cầu ị cáo phải ồi thường thêm số tiền chi phí điều trị thương tích là 17.000.000 đồng và xin giảm nhẹ hình phạt cho ị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xác định cáo trạng truy tố là đúng không oan sai, đồng ý ồi thường chi phí điều trị thương tích cho bà C 17.000.000 đồng, ị cáo không tranh luận gì, thống nhất với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phan Thiết, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố Phan Thiết, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, ị cáo đã khai áo và xuất trình các chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về hành vi của ị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử ị cáo khai nhận: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 18/9/2021, tại khu phố 3, phường Phú T, thành phố Phan T, tỉnh Bình Thuận do mâu thuẫn trong quá trình sinh hoạt, Trần Minh S đã dùng 01 cái àn nhựa đánh vào vùng đầu của à Hoàng Thị C gây thương tích cho bà C là 12%.

Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt mà S đã sử dụng 01 cái àn nhựa là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho ị hại với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 12%. Do đó hành vi của S đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” với các tình tiết định khung hình phạt “Dùng hung khí nguy hiểm” và “Có tính chất côn đồ” được quy định tại điểm a, i khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Theo quy định tại Điều 134 của Bộ luật Hình sự:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì ị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a. Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

…

i) Có tính chất côn đồ;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì ị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

…

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”.

Đối chiếu hành vi của ị cáo với quy định của Bộ luật hình sự đã có đủ căn cứ kết luận: Bị cáo Trần Minh S đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự nên Viện kiểm sát nhân dân dân thành phố Phan Thiết truy tố ị cáo về tội phạm và điều luật đã viện dẫn trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Trần Minh S phạm tội đối với ị hại Hoàng Thị C là người trên 70 tuổi, do đó hành vi của S thuộc trường hợp “Phạm tội đối với người đủ 70 tuổi trở lên”, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, ị cáo đã thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải, tự nguyện ồi thiệt hại, khắc phục hậu quả, được ị hại có đơn xin giảm hình phạt và đã ra đầu thú nên có căn cứ cho ị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về mức hình phạt: Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, giữ quyền công tố đã luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử mức hình phạt và điều luật áp dụng là phù hợp với hành vi phạm tội của các ị cáo.

Về trách nhiệm ồi thường dân sự: Trong quá trình điều tra ị cáo đã ồi thường 7.500.000 đồng nên bà C yêu cầu ị cáo ồi thường thêm chi phí điều trị thương tích là 17.000.000 đồng. Tại phiên tòa ị cáo đồng ý ồi thường thêm số tiền điều trị thương tích 17.000.000 đồng cho à C.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 cái àn nhựa màu đỏ, có kích thước 63cm x 43cm x 50cm là công cụ phạm tội do không còn giá trị sử dụng.

Bị cáo phải nộp tiền án phí và những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố:

- Bị cáo Trần Minh S phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm , s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Trần Minh S 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31/01/2023.

2. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

Áp dụng Điều 48 của Boä luaät hình söï vaø Điều 590, Ñieàu 593 của Boä luaät dân sự, uộc bị cáo Trần Minh S ồi thường cho à Hoàng Thị C 17.000.000 đồng.

Kể từ ngày ản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, ên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm a, c Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 cái àn nhựa màu đỏ, có kích thước 63cm x 43cm x 50cm là công cụ phạm tội do không còn giá trị sử dụng

(Theo biên ản giao nhận vật chứng số 99 ngày 13/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc ị cáo Trần Minh S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 850.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Án xử công khai sơ thẩm, ị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (22/3/2023). Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận ản án hoặc ản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ