vanban.org

Bản án 61/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 30/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Đắc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

X phạt bị cáo Lê Đắc T 12 (Mười hai) tháng cải tạo hông giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày C quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án. Không hấu trừ thu nhập trong thời gian cải tạo hông giam giữ. Giao bị cáo Lê Đắc T cho Ủy ban nh n d n xã Y, h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đắc T phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Đắc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 100 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố t ng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN ĐỊNH
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2023/HS-ST
Ngày 30-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA N NH N D N HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Dung.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Bình Trọng - Bí thư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh thị trấn Quán Lào, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

2. Ông Trần Văn Hưng - Phó Giám đốc Trung tâm y tế huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư T a án nh n d n huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

- Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân huy n Yên Đ nh, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 8 năm 2023 tại Tr s T a án nh n d n huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa t s thẩm công khai v án hình sự s thẩm th l số: 60/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 8 năm 2023, theo Quyết định đưa v án ra t

số: 61/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Đắc Tú, tên gọi hác: Không, sinh ngày: 03/5/2006 tại xã Y, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa (tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo 17 tuổi 0 tháng 02 ngày); N i cư trú: Thôn 2, xã Y, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; D n tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Đắc V, sinh năm 1972; Con bà: Hoàng Thị L, sinh năm 1977; Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo hông bị tạm giữ, tạm giam, bị áp d ng biện pháp cấm đi hỏi n i cư trú từ ngày 17/5/2023 cho đến nay. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên t a.

- Người đại diện H pháp của bị cáo Lê Đắc T: Ông Lê Đắc V, sinh năm 1972, n i cư trú: Thôn 2, xã Y, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Lê Đắc T: Bà Nguyễn Thị Ng - Trợ giúp viên pháp l thuộc Trung t m trợ giúp pháp l Nhà nước tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

- Đại diện Ban giám hiệu Trường THPT Yên Định 2, địa chỉ: Thôn K, xã I, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa: Thầy Lê Đức P, chức v : Phó Hiệu trư ng. Có mặt.

- Bị hại: Bà Hoàng Thị H, sinh năm: 1957, n i cư trú: Thôn 2, xã Y, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

- Những người làm chứng:

1. Bà Lê Thị O, sinh năm: 1972, n i cư trú: Thôn 4, xã Y, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

2. Chị Nguyễn Thị G, sinh năm: 1980, n i cư trú: Thôn 2, xã Y, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

3. Chị Lê Thị E, sinh năm: 1983, n i cư trú: Thôn K, xã I, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

4. Anh Lê Văn A, sinh năm: 1980, n i cư trú: Thôn 1, xã Đ, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

5. Anh Lê Đắc B, sinh năm: 2006, n i cư trú: Thôn S, xã X, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

6. Anh Nguyễn Văn C, sinh năm: 2007, n i cư trú: Thôn 3, xã Y, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

- Người chứng kiến: Bà Đỗ Thị D, sinh năm: 1944, n i cư trú: Thôn 2, xã Y, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ N:

Theo các tài liệu có trong hồ s v án và diễn biến tại phiên t a, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 05/5/2023, Lê Đắc T đi bộ từ nhà uống nhà bà Đỗ Thị D cùng thôn 2, ã Y, huyện Yên Định để hái oài. Khi đi qua nhà bà Hoàng Thị H, sinh năm 1957 cùng thôn thì phát hiện c a cổng hóa, c a nhà chính đóng, c a nhà ngang cấp bốn có 02 c a ra vào, theo hướng từ ngoài cổng vào: C a thứ nhất h p hờ, c a thứ hai m và hông có ai nhà, nên T nảy sinh sinh định trộm cắp tài sản. T trèo qua bờ tường nhà bà H vào trong s n, rồi đi vào nhà ngang theo đường c a thứ hai. Khi vào trong nhà, T thấy có một tủ gỗ ê đầu nhà (hướng từ cổng vào), tiếp giáp có ê 01 giường ngủ. T m hai ngăn o phía dưới tủ gỗ thấy bên trong có bánh ẹo nên đóng lại. T m cánh c a ính trên, nhưng c a hóa nên T hông m được. T quay ra ệ tủ gỗ đặt ngoài hè nhà ngang lấy trên mặt tủ 01 đoạn gậy gỗ dài hoảng 60cm, rồi đi vào trong nhà, dùng gậy gỗ đập vỡ c a ính. T l c tìm quần áo đang treo trong tủ, phát hiện trong túi áo phía dưới bên phải của chiếc áo hoác lông có 1.300.000đ được buộc thành tập bằng v ng nịt. T số tiền này và cất vào túi áo chống nắng đang mặc trên người. T tiếp t c tìm túi áo phía dưới bên trái thì thấy có 01 tập tiền 5.500.000đ được bỏ vào túi ni lông màu trắng và 01 chiếc nhẫn tr n màu vàng bằng im loại. T vứt túi ni lông màu trắng lại nền nhà và cất tập tiền cùng chiếc nhẫn vào trong túi áo chống nắng của mình. T thấy trong tủ c n có 01 túi da màu đen, T m túi thấy chỉ có các tờ tiền mệnh giá 500đ, 1.000đ nên hông lấy mà vứt lại giường ngủ bên cạnh. T nhặt gậy gỗ mang ra để lại trên mặt tủ gỗ ngoài hè và trèo qua tường nhà bà H đi về nhà. Sau đó, T đã tiêu ài cá nh n hết toàn bộ số tiền trộm cắp được là 6.800.000đ.

Ngày 05/5/2023, sau hi phát hiện bị mất trộm tài sản, bà Hoàng Thị H đã báo cáo sự việc tới Công an ã Y, huyện Yên Định. Ngày 12/5/2023, Lê Đắc T đã đến Công an ã Y đầu thú.

Sau hi trộm cắp được tài sản của bà H, T đã s d ng số tiền như sau: Trả nợ cho anh Nguyễn Văn C, sinh năm 2007, thôn 3, ã Y (bạn của T) số tiền 2.100.000đ. Nộp tiền học thêm môn Toán cho thầy Lê Văn A, sinh năm 1980, thôn 1, xã Đ (là giáo viên Trường THPT Yên Định 2) số tiền 900.000đ. Nộp tiền học thêm môn Ag Anh cho cô Lê Thị E, sinh năm 1983, thôn K, xã I (là giáo viên Trường THPT Yên Định 2) số tiền 250.000đ. Trả nợ tại c a hàng tạp hóa của chị Nguyễn Thị G, sinh năm 1980, thôn 2, ã Y số tiền 516.000đ. Nhờ chị Lê Thị O, sinh năm: 1972, thôn 4, ã Y chuyển vào số tài hoản 6598102006 của anh Lê Đắc B, sinh năm: 2006, thôn S, xã X số tiền 1.200.000đ (để nhờ B chuyển vào tài hoản ch i game “Liên qu n” của T) và mua nước uống, đóng phí chuyển tiền, T đã đưa cho chị O số tiền 1.325.000đ. Số tiền c n lại, T đã chi tiêu cá nh n hết.

Đối với chiếc nhẫn tr n bằng im loại màu vàng mà T đã trộm cắp là nhẫn mạ vàng, bà H mua làm trang sức nên hông có giá trị. Sau hi trộm cắp, T đã mang chiếc nhẫn đi bán nhưng hông bán được, nên T đã vứt ven đường đoạn ngã ba gần trường THPT Yên Định 2, thuộc địa phận thôn Thạc Quả, ã I.

Quá trình điều tra, Lê Đắc T đã thành hẩn hai nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình như đã nêu trên.

Về vật chứng: C quan điều tra đã A hành truy tìm chiếc nhẫn tr n bằng im loại mạ vàng mà T đã trộm cắp trong nhà bà H, tuy nhiên hông thu giữ được. Đối với chiếc gậy gỗ dài hoảng 60cm T s d ng để đập c a ính, T khai báo để lại trên mặt tủ gỗ trong nhà bà H, nhưng quá trình hám nghiệm hiện trường, truy tìm vật chứng C quan điều tra hông thu giữ được.

Về trách nhiệm d n sự: Lê Đắc T và người đại diện H pháp của T đã tự nguyện bồi thường đầy đủ số tiền trộm cắp là 6.800.000đ cho bà H. Đối với chiếc nhẫn mạ vàng hông có giá trị nên bà H hông yêu cầu T bồi thường. Đối với cánh c a tủ bị vỡ ính, gia đình T đã hắc ph c cho bà H. Bà H hông yêu cầu T phải bồi thường gì thêm.

Đối với những người được T trả nợ và nộp tiền học hông biết là tiền do T trộm cắp mà có nên hông em t l .

Tại bản cáo trạng số 61/CT-VKSYĐ ngày 01/8/2023 của Viện iểm sát nh n d n huyện Yên Định truy tố Lê Đắc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo hoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

T i phiên tòa:

- Bị cáo Lê Đắc T hai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố và in giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện iểm sát nh n d n huyện Yên Định luận tội giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng t (HĐXX) tuyên bố bị cáo Lê Đắc T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo hoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đề nghị HĐXX áp d ng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s hoản 1 và hoản 2 Điều 51, Điều 36, Điều 91, Điều 100 Bộ luật Hình sự, x phạt bị cáo Lê Đắc T từ 09 đến 12 tháng cải tạo hông giam giữ, hông hấu trừ thu nhập, hông áp d ng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

- Người bào chữa cho bị cáo phát biểu quan điểm tranh luận: Viện iểm sát truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo hoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, hi quyết định hình phạt đề nghị HĐXX em xét các yếu tố sau để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường H ít nghiêm trọng; sau hi phạm tội đã thành hẩn hai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại; sau hi phạm tội đã ra đầu thú; bị hại in giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo được tặng giấy hen trong quá trình học tập, nên bị cáo được hư ng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, i, s hoản 1 và hoản 2 Điều 51 BLHS. Khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi, nhận thức pháp luật c n hạn chế. Đề nghị HĐXX áp d ng hoản 1 Điều 173, điểm b, i, s hoản 1 và hoản 2 Điều 51, Điều 3, Điều 36, Điều 91, Điều 100 của Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo mức án từ 06 đến 09 tháng cải tạo hông giam giữ, không hấu trừ thu nhập, hông áp d ng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Người đại hiện H pháp cho bị cáo phát biểu: Thống nhất với iến của Người bào chữa, hông bổ sung gì thêm.

- Bị hại hông có iến tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện iểm sát. Bị hại in giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Đại diện Trường THPT Yên Định 2 phát biểu: Bị cáo T trong quá trình học tập tại Trường có ết quả học tập há, trước hi phạm tội có ết quả rèn luyện tốt. Đề nghị HĐXX em t áp d ng hình phạt cải tạo hông giam giữ, để bị cáo có c hội tiếp t c học tập.

NH N ĐỊNH CỦA HỘI Đ NG X T X :

Trên c s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s v án đã được tranh t ng tại phiên t a, Hội đồng t nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố t ng của C quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Định, Điều tra viên, Viện iểm sát nh n d n huyện Yên Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c theo quy định của Bộ luật Tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên t a, bị cáo hông có iến hoặc hiếu nại về hành vi, quyết định của C quan A hành tố t ng, người A hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định của C quan A hành tố t ng, người A hành tố t ng đã thực hiện đều H pháp.

[2] Về tội danh:

Thông qua tranh t ng tại phiên toà, bị cáo Lê Đắc T hoàn toàn thừa nhận: Xuất phát từ động c v lợi nên vào hoảng 12 giờ 30 ngày 05/5/2023, Lê Đắc T đã có hành vi l n lút vào nhà bà Hoàng Thị H, sinh năm 1957, thôn 2, ã Y, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa trộm cắp số tiền là 6.800.000đ (Sáu triệu tám trăm nghìn đồng).

Lời hai của bị cáo tại phiên t a phù H với lời hai của bị cáo tại c quan điều tra, phù H với lời hai của bị hại, người làm chứng, người chứng iến và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập trong hồ s v án. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, HĐXX t thấy đủ c s ết luận hành vi trộm cắp số tiền 6.800.000đ của bị cáo Lê Đắc T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại hoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. VKSND huyện Yên Định truy tố bị cáo theo tội danh trên, đề nghị Hội đồng t

áp d ng điều luật là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và quan hệ pháp luật m phạm: Tính chất của v án là ít nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho ã hội, m phạm trực tiếp quyền s hữu tài sản H pháp của người hác được pháp luật hình sự bảo vệ. Vì vậy, cần phải l nghiêm để răn đe, ph ng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo hông phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường H ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên t a đã thành hẩn hai báo, tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, nên bị cáo được hư ng 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s hoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, sau hi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú và bị hại in giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên bị cáo được hư ng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại hoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo phạm tội hi chưa đủ 18 tuổi nên được hư ng chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại chư ng XII Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt:

Từ việc đánh giá những căn cứ quyết định hình phạt nêu trên, HĐXX xét thấy: Bị cáo có nh n th n tốt, hông có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có 04 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại hoản 1 và hoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, có n i cư trú rõ ràng, có hả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo ngoài cộng đồng hông g y nguy hiểm cho ã hội, hông ảnh hư ng ấu đến an ninh, trật tự, an toàn ã hội. Vì vậy, HĐXX t thấy hông cần thiết phải cách ly bị cáo để giáo d c mà chỉ cần áp d ng hình phạt cải tạo hông giam giữ cũng đủ để răn đe, giáo d c đối với bị cáo, đồng thời thể hiện sự hoan hồng của pháp luật. Bị cáo là người dưới 18 tuổi nên hông hấu trừ thu nhập trong thời gian cải tạo hông giam giữ. Về hình phạt bổ sung: Không áp d ng.

[6] Về trách nhiệm d n sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường đầy đủ số tiền trộm cắp là 6.800.000đ cho bà Hoàng Thị H. Đối với cánh c a tủ bị vỡ ính, gia đình bị cáo đã hắc ph c cho bà H. Bà H hông yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm, nên HĐXX không xem xét.

[7] Về án phí: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự s thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ hoản 1 Điều 173, điểm b, i, s hoản 1 và hoản 2 Điều 51, Điều 36, Điều 91, Điều 100 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điểm a hoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và s d ng án phí và lệ phí T a án.

1. Tuyên bố bị cáo Lê Đắc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. X phạt bị cáo Lê Đắc T 12 (Mười hai) tháng cải tạo hông giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày C quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án. Không hấu trừ thu nhập trong thời gian cải tạo hông giam giữ.

Giao bị cáo Lê Đắc T cho Ủy ban nh n d n xã Y, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa để giám sát, giáo d c trong thời gian cải tạo hông giam giữ.

Không áp d ng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Đắc T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự s thẩm.

4. Về quyền háng cáo: Bị cáo, người đại diện H pháp của bị cáo, người bào chữa và bị hại có quyền háng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày ể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ