vanban.org

Bản án 61/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương Tuyên án 28/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trọng C và bị cáo Nguyễn Hoài N đều phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b, c Điều 47 BLHS; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy: 0,121g ma túy Ketamine, 01 vỏ túi nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật đƣợc đựng trong 01 bì thƣ dán kín phía trên bên trái có ghi "Bộ Công an, Công an tỉnh Hải Dƣơng, số 317/… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trong C + ĐP phạm tội Tổ chức SDTPCMT - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trọng C và bị cáo Nguyễn Hoài N đều phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 255 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỨ KỲ - TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2023/HS- ST
Ngày: 28 - 11 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ - TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thành.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn San

2. Ông Nguyễn Ngọc Phan

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Hùng, Thƣ ký Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hƣơng - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 69/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 61/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2023, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Trọng C, sinh năm 1999; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn Làng V, xã Chí M, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dƣơng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Trọng Lvà bà Nguyễn Thị H; Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Bản án số 06 ngày 29/8/2018 của Tòa án quân sự khu vực 1 Quân khu 3 xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Chứa mại dâm, tổng hợp hình phạt của bản án số 08 ngày 07/02/2018 của Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn buộc Cƣờng phải chấp hành hình phạt chung 03 năm 04 tháng tù. Ngày 10/6/2023 chấp hành xong hình phạt tù, đã chấp hành xong án phí; Ngày 17/01/2017 bị Công an huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Gây rối trật tự công cộng.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/6/2023, chuyển tạm giam ngày 21/6/2023 đến nay tại trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dƣơng.

2. Nguyễn Hoài N, sinh năm 1991; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn Nhân L, xã Chí M, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dƣơng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn Tuấn và bà Nguyễn Thị Thủy; Có vợ là Trần Thị Mai (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/6/2023, chuyển tạm giam ngày 21/6/2023 đến nay tại trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dƣơng.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Chị Đặng Thùy L, sinh năm 2009; Nơi ĐKHKTT: thôn Khe Ván, xã Quang Minh, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái; Hiện trú tại: thôn Ngọc Chấn, xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng

Ngƣời đại diện theo pháp luật của chị Linh là bà Ngô Hƣơng Giang - Bí thƣ Đoàn thanh niên thị trấn Tứ Kỳ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.

- Người làm chứng:

1. Chị Vàng Thị H, sinh năm 2007

2. Anh Nguyễn Xuân T, sinh năm 2006

Ngƣời đại diện theo pháp luật của chị Hƣơng anh Tình là bà Ngô Hƣơng Giang - Bí thƣ Đoàn thanh niên thị trấn Tứ Kỳ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.

3. Chị Vƣơng Lệ Q, sinh năm 2005

4. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1982

5. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1949

6. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1967

(Tại phiên tòa có mặt bị cáo Cƣờng, bị cáo Nam, bà Hòa, bà Hiền. Vắng mặt chị Linh, bà Giang, chị Hƣơng, anh Tình, chị Quyên, ông Cƣờng).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Nguyễn Hoài N và Nguyễn Trọng C là bạn bè quen biết nhau và đã từng cùng nhau sử dụng ma túy. Khoảng 02 giờ 10 phút ngày 17/6/2023 Nguyễn Hoài N nhắn tin qua ứng dụng Messenger rủ Nguyễn Trọng C sử dụng ma túy Ketamine (thƣờng gọi là Ke) và MDMA (thƣờng gọi là kẹo), Cƣờng đồng ý. Nam bảo Cƣờng mua 2 chỉ Ke (Ketamine) và 2 viên kẹo, Cƣờng nói chỉ còn 1.500.000 đồng nên chỉ mua 1 chỉ Ke và 2 viên kẹo, Nam đồng ý và bảo Cƣờng mua ma túy xong thì về chỗ ở của Cƣờng tại thôn Làng V, xã Chí M, huyện Tứ K (là nhà của bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1949 là bà nội Nguyễn Trọng C) để sử dụng, Cƣờng đồng ý. Cƣờng và Nam thống nhất số tiền mua ma túy về sử dụng sẽ chia đôi, mỗi ngƣời trả một nửa. Cƣờng dùng điện thoại Iphone 14 Pro max màu tím (điện thoại của bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1982 ở thôn Làng V, xã Chí M, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dƣơng - là mẹ đẻ Cƣờng), lắp sim số 0399.368.030 của Cƣờng gọi tới số 0906.048.137 của một ngƣời đàn ông (không biết tên tuổi, địa chỉ) để mua 01 chỉ Ke và 02 viên kẹo rồi hẹn nhận hàng tại đò Bầu, huyện Tứ Kỳ, ngƣời này đồng ý, nói giá 1.900.000 đồng. Cƣờng đến khu vực đò bầu gặp 01 ngƣời đàn ông đầu đội mũ lƣỡi trai đen, đeo khẩu trang đen ngồi ở ghế lái của 01 chiếc xe ô tô màu đen (không nhớ biển số), Cƣờng đến gần, ngƣời này hé mở cửa kính đƣa 01 gói giấy ra, Cƣờng cầm gói giấy không kiểm tra nhƣng biết bên trong gói giấy này có chứa ma túy. Sau khi nhận ma túy, Cƣờng không đủ tiền nên nói với ngƣời này nhắn tin số tài khoản để Cƣờng chuyển khoản, ngƣời này nghe xong không nói gì và quay xe đi về hƣớng chợ Yên, thị trấn Tứ Kỳ. Cƣờng đi về nhà ở, vào phòng ngủ. Tại đây, Cƣờng mở gói giấy thấy có 02 viên ma túy màu xanh gọi là Kẹo và 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa ma túy tổng hợp gọi là Ke. Cƣờng chuẩn bị: 01 đĩa sứ màu trắng để số ma túy lên trên mặt đĩa; 01 bật lửa ga màu vàng; 01 thẻ ATM của ngân hàng MB mang tên Nguyen Thi Hoa; 01 ống hút đƣợc cuộn từ 01 tờ tiền Polymer mệnh giá 10.000 đồng, dùng 3 vỏ của đầu lọc điếu thuốc lá để cố định; 01 lon Cocacola màu đỏ có sẵn trong tủ lạnh; 01 loa và 01 đèn chớp có sẵn trong phòng. Khoảng 03 giờ cùng ngày, Nam đến vào trong phòng ngủ của Cƣờng. Cƣờng đƣa cho Nam 01 viên ma túy Kẹo, Cƣờng 01 viên, Nam và Cƣờng mỗi ngƣời cắn 1/2 viên rồi dùng lon Coca cola uống. Cƣờng sử dụng điện thoại kết nối với loa có sẵn mở nhạc. Sau đó Cƣờng đổ số ma túy loại Ke ra đĩa dùng bật lửa hơ nóng đĩa, sử dụng thẻ ATM đảo ma túy ra chia thành các đƣờng thẳng. Cƣờng lấy ống hút đƣợc cuộn từ tờ tiền polymer mệnh giá 10.000 đồng sử dụng ma túy bằng cách hít vào một bên mũi, Cƣờng dùng xong đƣa cho Nam sử dụng. Cƣờng và Nam sử dụng gần hết số ma túy trên đĩa thì Cƣờng bảo Nam gọi 02 nhân viên đến để cùng sử dụng ma túy, Nam đồng ý. Cƣờng gọi điện cho anh Nguyễn Xuân T, sinh năm 2006 ở thôn Lâm, xã Minh Đức, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng là quản lý nhân viên các quán Karaoke gọi 02 nhân viên đến. Tình gọi cho Đặng Thuỳ Linh, sinh năm 2009, HKTT: Thôn Khe Ván, xã Quang Minh, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái và Vàng Thị H, sinh năm 2007, HKTT: Bản Nà Lang, xã Bum Nƣa, huyện Mƣờng Tè, tỉnh Lai Châu rồi chở Linh, Hƣơng đến chỗ Cƣờng. Khi Linh và Hƣơng đến, Cƣờng đƣa cho Linh, Hƣơng mỗi ngƣời 1/4 viên ma túy kẹo nhƣng chỉ có Linh cầm và sử dụng, Hƣơng không sử dụng. Sau đó, Cƣờng đƣa cho Linh ma túy Ke, Linh cầm đĩa dùng ống hút sử dụng bằng cách hít qua mũi vào cơ thể. Sau đó Cƣờng thống nhất với Nam mua thêm 01 chỉ ma túy Ke nữa. Cƣờng tiếp tục gọi điện cho ngƣời đàn ông trƣớc đó mua ma túy, mua thêm 1.500.000 đồng ma túy Ketamine (địa điểm giao hàng, phƣơng thức giao hàng nhƣ lần trƣớc) và Cƣờng nói với ngƣời này sẽ chuyển khoản trả tiền sau. Cƣờng mang ma túy về phòng ngủ của mình đổ ma túy Ketamine ra đĩa, sử dụng bật nửa hơ nóng đĩa rồi dùng thẻ ATM đảo ma túy (xào ke), lần lƣợt Nam, Cƣờng, Linh, Hƣơng sử dụng Ketamine. Đến khoảng gần 07 giờ cùng ngày có Vƣơng Lệ Q, sinh năm 2005, HKTT: thôn Đô Tân, xã Bắc Sơn, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội là bạn Cƣờng đến, Quyên không sử dụng ma túy. Cả nhóm sử dụng ma túy, nghe nhạc đến khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày thì bị lực lƣợng Công an huyện Tứ Kỳ phát hiện, bắt quả tang thu giữ vật chứng (bút lục số 85-89).

Tại Bản kết luận giám định số 317 ngày 17/6/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dƣơng xác định: chất bột màu trắng trong túi nilon màu trắng đƣợc niêm phong trong phong bì đánh số 01 gửi đến giám định có khối lƣợng là 0,182g (không phẩy một trăm tám mƣơi hai gam) là ma túy, loại Ketamine (bút lục số 41).

Tại bản Cáo trạng số 64/CT-VKSTK, ngày 25/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ truy tố ra trƣớc Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ để xét xử đối với Nguyễn Trọng C và Nguyễn Hoài N về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện VKSND huyện Tứ Kỳ giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX ): Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng C và Nguyễn Hoài N phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; áp dụng điểm b ,c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự điểm s khoản 1 Điều 51, các Điều 17, 38, 58 BLHS đối với cả hai bị cáo; áp dụng khoản 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo Nguyễn Hoài N:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng C từ 08 năm đến 08 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài N từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ.

Ngoài ra đại diện VKS còn đề nghị về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, truy thu tiền bán ma túy, án phí theo quy định pháp luật.

- Bị cáo Nguyễn Trọng C, Nguyễn Hoài N thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình công nhận quyết định truy tố của VKSND huyện Tứ Kỳ là đúng và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định, lời khai của ngƣời làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Nhƣ vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 8 giờ 30 phút ngày 17/06/2023, tại phòng ngủ của Nguyễn Trọng C (nhà ở của bà Nguyễn Thị H) ở thôn Làng V, xã Chí M, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dƣơng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tứ Kỳ phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Trọng C, Nguyễn Hoài N có hành vi cung cấp ma túy loại Ketamine và MDMA, cung cấp địa điểm để cho Vàng Thị H, sinh năm 2007, HKTT: Bản Nà Lang, xã Bum Nƣa, huyện Mƣờng Tè, tỉnh Lai Châu và Đặng Thuỳ Linh, sinh năm 2009, HKTT: Thôn Khe Ván, xã Quang Minh, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái sử dụng trái phép thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tứ Kỳ bắt quả tang, thu giữ cùng vật chứng.

Các bị cáo là ngƣời có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ đƣợc hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhƣng vì mục đích thỏa mãn cơn nghiện của bản thân nên các bị cáo vẫn cố ý thực hiện, các bị cáo bàn bạc thống nhất góp tiền mua ma túy để cùng nhau sử dụng và cung cấp ma túy cho Linh, Hƣơng, Quyên sử dụng nên hành vi đủ yếu tố cấu thành tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và phải chịu tình tiết định khung "Đối với 2 người trở lên" theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Trong số những ngƣời mà bị cáo Cƣờng và Nam cung cấp ma tuy để sử dụng có ngƣời dƣới 18 tuổi nên ngoài việc phải chịu tình tiết định khung quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS thì các bị cáo còn phải chịu tình tiết định khung "Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi" theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 255 BLHS. Do đó, Cáo trạng của VKSND huyện Tứ Kỳ đã truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nƣớc về các chất ma tuý mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Mặc dù nhận thức đƣợc ma tuý không chỉ gây tác hại cho sức khỏe cho chính ngƣời sử dụng mà và còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội khác, nhƣng vì mục đích để thoả mãn bản thân và ý thức coi thƣờng pháp luật, các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải xử lý nghiêm trƣớc pháp luật. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, không có sự câu kết chặt chẽ, các bị cáo thống nhất cùng góp tiền mua ma túy về để cùng sử dụng, sau khi sử dụng hết số ma túy đã mua ban đầu, bị cáo Cƣờng là ngƣời chủ động đề xuất tiếp tục mua ma túy về để sử dụng và gọi nhân viên đến sử dụng cùng, cả hai lần mua ma túy bị cáo Cƣờng đều là ngƣời liên hệ và trực tiếp mua ma túy, chuẩn bị địa điểm, công cụ để tổ chức sử dung ma túy nên trong vụ án bị cáo Cƣờng giữ vai trò chính là ngƣời thực hành tích cực, bị cáo Nam giữ vai trò đồng phạm là ngƣời thực hành.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo Nguyễn Hoài N có bố đẻ là ông Nguyễn Văn Tuấn đƣợc tặng thƣởng Huy chƣơng kháng chiến hạng nhì nên bị cáo đƣợc hƣởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, HĐXX sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với các bị cáo thể hiện tính khoan hồng của pháp luật song vẫn cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhƣ vậy mới có tác dụng giáo dục riêng đối với các bị cáo cũng nhƣ có tác dụng phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với mẫu vật hoàn lại sau giám định là vật cấm lƣu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 túi nilong màu trằng, 01 đĩa sứ; 01 bật lửa ga, 01 lon cocacola, 01loa màu đen, 01 đèn chớp, 01 thẻ ATM, 02 sim điện thoại số 0399368030, 0707399933, 03 vỏ đầu lọc điếu thuốc lá Thăng Long không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax thu của bị cáo Nam, bị cáo sử dụng để liên lạc với bị cáo Cƣờng tổ chức sử dụng ma túy nên cần tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nƣớc. Đối với chiếc điện thoại Iphone 6S Plus kèm sim 0965789452 không sử dụng vào việc phạm tội nên cần trả lại bị cáo, ông Nguyễn Văn Tuấn là bố bị cáo nhận thay.

Trả lại chị Đặng Thùy L 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO

Đối với 01 tờ tiền mệnh giá 10.000đ tịch thu nộp ngân sách nhà nƣớc.

Trong vụ án, đối với ngƣời bán ma túy cho Cƣờng, quá trình điều tra không làm rõ đƣợc tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý. Bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Xuân T không biết việc Cƣờng dùng nhà bà Hiền, thẻ ATM của bà Hòa và thuê chị Linh, Hƣơng đến để cùng sử dụng ma túy với Cƣờng, Nam nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Các bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 255 BLHS

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trọng C và bị cáo Nguyễn Hoài N đều phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"

- Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, các Điều 17, 38, 58 BLHS. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng C 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 17/6/2023.

- Áp dụng điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 , các Điều 17, 38, 58 BLHS. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài N 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 17/6/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b, c Điều 47 BLHS; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS:

- Tịch thu tiêu hủy: 0,121g ma túy Ketamine, 01 vỏ túi nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật đƣợc đựng trong 01 bì thƣ dán kín phía trên bên trái có ghi "Bộ Công an, Công an tỉnh Hải Dƣơng, số 317/KL-KTHS", phía sau có chữ ký, con dấu niêm phong của các thành phần tham gia là mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 vỏ túi nilon màu trắng có kích thƣớc (7x10)cm; 01 đĩa sứ màu trắng có đƣờng kính miệng 18cm, đƣờng kính đáy 10.5cm, cao 3cm; 01 thẻ ATM của ngân hàng Quân đội mang tên NGUYEN THI HOA; 01 bật lửa gas màu vàng; 01 lon Cocacola màu đỏ kích thƣớc (10,5x5,5)cm; 01 loa màu đen, nhãn hiệu TEKIN, kích thƣớc (41,5x6,8x7)cm; 01 đèn chớp bằng nhựa màu vàng trắng; 02 sim điện thoại số 0399.368.030, 0707.399.933; 03 vỏ đầu lọc điếu thuốc lá Thăng Long;

- Tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nƣớc 01 điện thoại nhãn hiệu iPhone 12 Pro max, vỏ màu vàng, ốp điện thoại màu đen.

- Trả lại chị Đặng Thùy L 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO vỏ màu vàng

- Trả lại bị cáo Nguyễn Hoài N 01 điện thoại Iphone 6S Plus kèm sim 0965789452 do ông Nguyễn Văn Tuấn là bố bị cáo nhận thay.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nƣớc 01 tờ tiền Polyme mệnh giá 10.000đ

(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Tứ Kỳ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ ngày 02/ 11/2023 ).

3. Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016 của UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Trọng C và Nguyễn Hoài N mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mƣời lăm ngày), kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 28/11/2023. Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và ngƣời đại diện theo pháp luật có quyền kháng cáo phần liên quan đến mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ