- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Hòan phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn H phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2023/HS-ST Ngày 17 - 7 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Công Sinh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Sửu và ông Đào Quyết Chiến.
-Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Kim Dung - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch tham gia phiên toà: Ông Ngô Trường Út - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2023 tại hội trường Uỷ ban nhân dân xã T, huyện Lập Thạch, Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 57/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
Phạm Văn H, sinh ngày 10/3/1981; nơi sinh và cư trú: Thôn T, xã L, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn P (đã chết) và bà Đỗ Thị T, sinh năm 1947; vợ Kim Thị Y, sinh năm 1984; con: có 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2006; tiền sự, tiền án: Không;
Nhân thân: Tại Quyết định số 13/2017/QĐ-TA ngày 02/6/2017, Tòa án nhân dân huyện Sông Lô đưa vào Cơ sơ cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng, ngày 23/9/2019 chấp hành xong.
Bị cáo bị bắt tạm gữ, tạm giam từ ngày 14/4/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Mạnh K, sinh năm 1990. Địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
-Người làm chứng: Anh Hà Minh C, sinh năm 2000 (vắng mặt). Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc.
-Người chứng kiến: Bà Lê Thị P, sinh năm 1979 (vắng mặt). Địa chỉ: Tổ dân phố P, thị trấn L huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 14/4/2023, Phạm Văn H điều khiển xe mô tô biểm kiểm soát 88E1- 015.79 đi từ nhà ở xã L, huyện Sông Lô đến Trung tâm Y tế huyện Lập Thạch để uống thuốc Methadone, khi đi H mang theo 01 túi ni lon bên trong có 07 gói ma túy heorine để trong túi quần phía trước bên trái mục đích để sử dụng, khi đi đến ngã ba xã N, huyện Sông Lô thì gặp Hà Minh C, sinh năm 2000 trú tại thôn L, xã T, huyện Sông Lô hỏi đi nhờ xuống Trung tâm Y tế huyện Lập Thạch để uống thuốc Methadone, H đồng ý và cho C đi cùng. Khoảng 08 giờ cùng ngày khi H và C đi đến sân của cơ sở điều trị Methadone thuộc Trung tâm Y tế huyện Lập Thạch thì bị Công an huyện Lập Thạch kiểm tra phát hiện bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ: Thu giữ trong túi quần bên trái phía trước của H đang mặc 01 túi ni lon bên trong có 07 gói nhỏ được bọc bằng giấy một mặt màu vàng một mặt màu trắng, bên trong có chứa chất bột cục màu trắng (vật chứng được niêm phong ký hiệu A1). H khai là gói ma túy heroine H cất giấu để sử dụng cho bản thân; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung màu hồng và 200.000 đồng; 01 xe mô tô biển kiểm soát 88E1- 015.79.
Tại kết luận giám định số 1045/KLGĐ ngày 18/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận:
“Chất bột màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định có khối lượng 0,5001g (không phảy năm không không một gam, không kể bao bì) là ma túy, loại Heroine”.
Về nguồn gốc ma túy H khai mua của một người đàn ông không rõ tên tuổi địa chỉ ở khu vực vườn hoa thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ với giá 1.000.000 đồng đem về nhà sử dụng một phần còn lại chia nhỏ ra thành 07 gói nhỏ để sử dụng dần nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt thu giữ.
Tại Cáo trạng số 63/CT-VKS ngày 26/6/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch truy tố Phạm Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Văn H từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 07 tháng tù; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định cùng bao gói niêm phong “MẪU TRẢ” A1=0,4647g, trả lại cho bị cáo 200.000 đồng và 01 điện thoại di động nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Tại phiên tòa bị cáo nói lời sau cùng thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lập Thạch, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 08 giờ ngày 14/4/2023, tại sân của Cơ sở điều trị Methadone của Trung tâm Y tế huyện Lập Thạch thuộc tổ dân phố P, thị trấn L, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, Phạm Văn H có hành vi tàng trữ trái phép 07 gói ma túy theo kết luận giám định loại Heroine có khối lượng 0,5001g mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi cất giữ chất ma túy để sử dụng cho bản thân của Phạm Văn H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Xét lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp vật chứng của vụ án, kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc; phù hợp lời khai của người làm chứng, người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Phạm Văn H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Điều luật quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
… c, Heroine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước và xâm phạm trật tự, an toàn xã hội ở địa phương. Như chúng ta đã biết ma tuý đã gây tác hại rất lớn và ảnh hưởng rất xấu đến sức khỏe con người, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Trong khi cả xã hội đang đấu tranh để đẩy lùi tệ nạn ma túy ra khỏi đời sống thì bị cáo lại làm cho tệ nạn ma túy ngày càng gia tăng. Bị cáo có đầy đủ nhận thức về tác hại của ma túy cho bản thân và xã hội nhưng vẫn thực hiện. Do vậy cần phải có hình phạt thật nghiêm khắc mới tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Xét nhân thân bị cáo Phạm Văn H là người có sức khoẻ, phát triển bình thường về thể chất và tinh thần nhưng không chịu làm ăn chân chính, ăn chơi đua đòi nên nghiện ma túy. Lẽ ra phải phạt bị cáo mức án cao xong xét thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo là người nghiện ma túy năm 2017 đã từng phải đi cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện điều đó thể hiện nhân thân của bị cáo là xấu. Trong vụ án này bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bản thân chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu. Vì vậy Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: “Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…”. Bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Số ma túy còn lại sau giám định cùng bao gói niêm phong “MẪU TRẢ” A1=0,4647g là vật nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung màu hồng và 200.000 đồng là tài sản của H không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 88E1- 015.79 là phương tiện H sử dụng khi đi uống thuốc quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Phạm Mạnh K, sinh năm 1990 ở thôn T, xã L, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc là cháu của H. K cho H mượn để đi lại, K không biết H sử dụng phương tiện trên đi tàng trữ trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra trả lại cho anh K là đúng chủ sở hữu. Nhận lại tài sản anh K không yêu cầu đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho H, do H không biết rõ tên tuổi địa chỉ người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn H phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn H 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 14/4/2023.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 1, 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Trả lại cho Phạm Văn H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung màu hồng và 200.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định cùng bao gói niêm phong “MẪU TRẢ” A1=0,4647g (vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 27 tháng 6 năm 2023 giữa Công an huyện Lập Thạch và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lập Thạch).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Phạm Văn H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: -Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh phúc; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lập Thạch; - Công an huyện Lập Thạch; - UBND xã L, huyện Sông Lô; - Bị cáo; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc; - Lưu HS, bộ phận theo dõi THAHS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Công Sinh |