- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn A - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn A phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2023/HS-ST Ngày 29/9/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Vân
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Bỉnh Quyền
Ông Nguyễn Hoành Đại
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thu Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2023 đối với:
Bị cáo Lê Văn A, sinh ngày 12/8/1995 tại thị trấn B, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú Phố Đ, thị trấn B, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn M (đã chết) và bà Lê Thị D; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại:
- Chị Lê Thị T, sinh năm 1988 (có mặt)
Địa chỉ: Phố Đ, thị trấn B, huyện H, tỉnh Thanh Hóa
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1977 (vắng mặt)
Địa chỉ: Phố Đ, thị trấn B, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ ngày 09/4/2023, tại nhà ở của ông Lê Văn H, SN: 1981 ở phố Đ, thị trấn B, huyện H, do có mâu thuẫn trong việc chăm sóc mẹ nên chị Lê Thị T và chị Nguyễn Thị H xảy ra cãi nhau. Lê Văn A từ nhà ở đi sang can ngăn, chị H đi về nhà mình, còn chị T quay sang đôi co với Anh thì bị Anh vật ngã xuống sân. Sau đó, A đi sang nhà chị H hút thuốc lào thì chị T cũng đi theo sau và tiếp tục chửi bới. Bị chửi, A bức xúc xông vào túm tóc và tát chị T vài cái. Chị T vằng ra, rồi chạy ra ngoài sân nhà chị H và tiếp tục chửi, A liền cầm dép để ở sân ném về phía chị T nhưng không trúng. Thấy thế, chị T chạy vào trong nhà chị H, lấy con dao dạng dao bổ cau cầm ở tay phải đi ra đứng trên hè nhà chĩa về phía A và thách thức. A đi đến bàn uống nước trong phòng khách nhà chị H lấy chiếc điếu cày (ống điếu bằng nứa, chiều dài 64,5cm, đường kính miệng ống 04 cm) và chạy đến chỗ chị T rồi dùng tay phải cầm điếu cày vụt 01 (một) phát theo chiều từ phải sang trái, chếch từ trên xuống dưới về phía tay phải của chị T làm chị T nghiêng người về phía sau nên bị trúng vào phần đầu bên trái. Anh tiếp tục vụt phát thứ hai về phía chị T, lúc này chị T giơ tay trái lên đỡ nên bị trúng vào phần cẳng tay. Sau đó, A vứt điều cày xuống sân nhà chị H rồi đi về nhà còn chị T tự điều khiển xe máy đến Bệnh viện đa khoa huyện Hoằng Hoá điều trị thương tích. Đến ngày 12/4/2023, chị T ra viện. Ngày 09/4/2023, chị Lê Thị T có đơn đề nghị xử lý bằng pháp luật hình sự đối với người đã gây thương tích cho mình là Lê Văn A.
Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể của chị Lê Thị T tại bệnh viện đa khoa huyện H vào hồi 16 giờ 35 phút ngày 09/4/2023: Tại vùng đỉnh thái dương trái có 01 vết thương dài 02cm, vết thương đã khâu; tại mi dưới mắt phải có 01 vết sưng nề, kích thước (2x2)cm; Tại cẳng tay trái có hiện tượng sưng nề, hạn chế vận động, đã cố định bột,
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 681/KLTTCT-PYTH ngày 28/04/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Thanh Hóa kết luận:
- Chấn thương vùng cẳng tay trái gây tổn thương gãy 1/3 trên xương trụ cẳng tay trái; đã được điều trị; hiện tại còn hình ảnh gãy 1/3 trên xương trụ cẳng tay trái: 10%.
- Sẹo vết thương phần mềm vùng đinh trái; kích thước sẹo nhỏ: 01%.
- Chấn thương vùng đỉnh thái dương trái gây hội chứng chấn động não;hiện tại đã được điều trị ổn định: 01%.
- Các chấn thương và tổn thương khác do chấn thương đã được điều trị; hiện tại không để lại sẹo vết thương phần mềm, không để lại vết biến đổi rối loạn sắc tố da: 0%.
Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Lê Thị T tại thời điểm giám định là: 12 % (Mười hai phần trăm).
Về vật chứng của vụ án: 01 điếu cày, ống điếu bằng nứa, chiều dài 64,5cm, đường kính miệng ống 04 cm, có bọc kim loại màu vàng ở hai đầu, thân điếu có các khoang vàng-đen xen kẽ nhau, không có nỏ điếu; chân đế điếu bằng gỗ; 01 con dao thái gọt đã qua sử dụng, chiều dài 27cm (phần lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài 17 cm, cán dao bằng gỗ dài 10 cm). Các vật chứng hiện đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoằng Hoá.
Về dân sự: Lê Văn A đã bồi thường thiệt hại với số tiền 50.000.000đ cho chị Lê Thị T. Chị T không có yêu cầu gì thêm về dân sự.
Bản Cáo trạng số 54/ Ctr - VKSHS ngày 28 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo Lê Văn A về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Đề nghị Hội đồng xét xử:
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Lê Văn A phạm tội “Cố ý gây thương tích”; đề nghị xử phạt bị cáo Lê Văn A từ 24 tháng đến 30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 tháng đến 60 tháng.
Về dân sự: Bị hại không có yêu cầu gì nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) điếu cày, ống điếu bằng nứa; 01 (một) con dao thái gọt đã qua sử dụng, chiều dài 27cm.
Bị cáo không có tranh luận gì, tại lời nói sau cùng, bị cáo xin hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo một phần trách nhiệm hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hoằng Hóa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố: Bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét tính chất, mức độ phạm tội trong hành vi và tội danh đối với bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn A thừa nhận toàn bộ hành vi bị cáo đã thực hiện: Xuất phát từ mâu thuẫn trong việc chăm sóc mẹ nên chị Lê Thị T và chị Nguyễn Thị H xảy ra cãi nhau, bị cáo ra can ngăn thì bị chị T chửi bới, thách thức và cầm dao đe dọa nên bị cáo đã dùng ống điếu cày bằng nứa vụt vào người chị Lê Thị T, hậu quả làm chị T bị tổn thương cơ thể là 12%. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự đúng như Viện kiểm sát truy tố. Hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm, lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo “thành khẩn khai báo”, bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho bị hại; Bị cáo phạm tội có một phần lỗi của bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần giảm cho bị cáo một phần trách nhiệm hình sự, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về vật chứng: 01 (một) điếu cày, ống điếu bằng nứa; 01 (một) con dao thái gọt đã qua sử dụnglà tài sản của chị Nguyễn Thị H, chị H không có yêu cầu gì, không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn A phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn A 24 (hai tƣ) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 (bốn tám) tháng tình từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trong thời gian thử thách, giao bị cáo Lê Văn A cho Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện H để giám sát giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong quá trình giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) điếu cày, ống điếu bằng nứa, chiều dài 64,5cm, đường kính miệng ống 04 cm, có bọc kim loại màu vàng ở hai đầu, thân điếu có các khoang vàng-đen xen kẽ nhau, không có nỏ điếu; chân đế điếu bằng gỗ; 01 (một) con dao thái gọt đã qua sử dụng, chiều dài 27cm (phần lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài 17 cm, cán dao bằng gỗ dài 10 cm). Các vật chứng hiện đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoằng Hoá theo Biên bản giao nhận vật chứng số 47/BBGN ngày 11/9/2023.
Về án phí: Buộc bị cáo Lê Văn A phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Hoằng Hóa; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - TAND tỉnh Thanh Hóa; - Chi cục THADS huyện Hoằng Hóa; - Cơ quan THA hình sự huyện Hoằng Hóa. - Công an huyện Hoằng Hóa; - Bị cáo; bị hại; - UBND thị trấn B; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Ngọc Vân |