vanban.org

Bản án 61/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Nông Tuyên án 15/08/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 15/08/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn N, sửa Bản án sơ thẩm số: 28/2023/HS-ST ngày 15-6-2022 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong về Điều luật áp dụng.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm ngày (15-8-2023). Trong thời gian thử thách, giao bị cáo Nguyễn Văn N cho xã Q, huyện G, tỉnh Đắk Nông giám sát, giáo dục. Gi…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn N phạm tội "trộm cắp tài sản" theo k1 điều 173 blhs - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn N, sửa Bản án sơ thẩm số: 28/2023/HS-ST ngày 15-6-2022 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong về Điều luật áp dụng.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2023/HS-PT
Ngày 15- 8 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Vinh.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Chiến và ông Lê Quốc Hương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Nguyễn Thị Nguyên - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 80/2023/TLPT-HS, ngày 24 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Văn N do có kháng cáo của bị cáo với bản án hình sự sơ thẩm số: 28/2023/HS-ST ngày 15-6-2022 của Toà án nhân dân huyện Đắk Glong.

Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn N, tên gọi khác: không; sinh năm 1994; tại tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: bon R Bút, xã Q, huyện G, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: không có nghề nghiệp; trình độ văn hoá: 08/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L (sinh năm 1958) và bà Đỗ Thị V (sinh năm 1965); tiền án, tiền sự: không; tại ngoại; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 18/02/2023, khi đến ăn sáng tại quán phở "M M" của ông Nguyễn Thế M để ăn sáng. Nguyên thấy chiếc xe mô tô biển kiểm soát 59G1 – 282 31 của ông M dựng trước quán, chìa khóa xe vẫn cắm ở ổ khóa nên nảy sinh ý định trộm cấp chiếc xe để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Quan sát xung quanh không thấy ai. N ngồi lên xe nổ máy rồi điều khiển xe đến khu vực rừng thông do Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Q quản lý. thuộc địa phận ban NiTing, xã Q rồi dừng xe lại bẻ phần nhựa chắn bùn bánh sau và biển kiểm soát ra khỏi xe rồi vứt vào gốc cây thông cách đó khoảng 02m. Sau đó, N điều khiển xe đến tiệm thu mua phế liệu của chị Lê Thị T và bán chiếc xe mô tô trên cho chị T với số tiền 700.000 đồng số tiến này N đã tiêu xài cá nhân hết.

Khi phát hiện mất xe ông M đã gửi đơn trình báo cơ quan Công an, sau đó Nguyễn Văn N bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong khởi tố để điều tra về hành vi trộm cắp tài sản.

Tại kết luận định giá tài sản số 10/KL-IIDDGTS ngày 13/3 /2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đắk Glong kết luận: giá trị 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda. loại Wave S màu sơn đen bạc, số máy C09E. 6354703, số khung Y-835764, biển số đăng ký 59G1-282 31 (xe đã qua sử dụng, cả chắn bùn sau, không có yếm và gương chiếu hậu) tại thời điểm ngày 18/02/2023 là 4.400.000 đồng; giá trị của 01 chắn bùn sau xe mô tô là 253.000 đồng.

Bản án hình sự sơ thẩm số: 28/2023/HS-ST ngày 15-6-2022 của Toà án nhân dân huyện Đắk Glong đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của BLHS.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo.

Ngày 30-6-2023, Nguyễn Văn N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận Tòa án nhân huyện Đắk Glong xử phạt bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo Điều 173 của Bộ luật Hình là đúng, không oan, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn N, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Với mục đích muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên lợi dụng sợ sơ hở trong việc quản lý tài sản của anh Nguyễn Văn M, bị cáo đã lán lút chiếm đoạt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda. loại Wave S màu sơn đen bạc, số máy C09E. 6354703, số khung Y-835764, biển số dăng ký 59G1-282 31 nên Bản án hình sự sơ thẩm số: 28/2023/HS-ST ngày 15-6-2022 của Toà án nhân dân huyện Đắk Glong kết án Nguyễn Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

. Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình điều tra cũng như tại các phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năm hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản bị chiếm đoạt có giá trị không lớn; tài sản đã được trả lại cho bị hại; bị cáo đã bồi thường và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đã được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm không cho bị cáo hưởng án treo khi bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như đã nêu và có nơi cư trú rõ ràng; có khả năng tự cải tạo là bất lợi cho bị cáo. Việc cho hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên Hội đồng xét xử xét thấy cần giữ nguyên mức hình phạt như cấp sơ thẩm đã áp dụng nhưng cho bị cáo hưởng án treo là phù hợp với Nghị quyết số 02/2018/NQHĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQHĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Do đó, kháng cáo của bị cáo là có căn cứ cần chấp nhận, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 28/2023/HS-ST, ngày 15-6-2022 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong.

. Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

. Đối với các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn N, sửa Bản án sơ thẩm số: 28/2023/HS-ST ngày 15-6-2022 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong về Điều luật áp dụng.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm ngày (15-8-2023).

Trong thời gian thử thách, giao bị cáo Nguyễn Văn N cho xã Q, huyện G, tỉnh Đắk Nông giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát, giáo dục, Tòa án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ