vanban.org

Bản án 61/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: chị Lê Thị Mỹ D và anh Trần Hùng C được ly hôn.

Về con chung: anh Trần Hùng C được quyền trực tiếp nuôi dưỡng Trần Quốc B, sinh ngày: 26/11/2012; chị Lê Thị Mỹ D chưa phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho chị D, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết chị Lê Thị Mỹ D và anh Trần Hùng C c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: chị Lê Thị Mỹ D và anh Trần Hùng C được ly hôn.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHỤNG HIỆP
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2023/HNGĐ - ST
Ngày: 03/4/2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tiến Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Dương

2. Ông Nguyễn Thế Tự

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cúc – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang

Ngày 03 tháng 4 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 707/2022/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2022, về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: chị Lê Thị Mỹ D, sinh năm: 1993; Địa chỉ: ấp Tân Q, xã Tân B, huyện P, tỉnh H; Chổ ở hiện nay: ấp P, xã Vĩnh P, huyện P, tỉnh B. (vắng mặt)

Bị đơn: Anh Trần Hùng C, sinh năm: 1991; Địa chỉ: ấp Tân Q, xã Tân B, huyện P, tỉnh H. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn ngày 8/11/2022, các lời khai trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Lê Thị Mỹ D trình bày:

Chị D và anh Trần Hùng C làm lễ cưới và chung sống với nhau vào năm 2012, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống đến đầu năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh chị bất đồng nhiều quan điểm trong cuộc sống, không còn quan tâm chăm sóc cho nhau, từ đó dẫn đến mất hạnh phúc gia đình, vợ chồng cũng đã chính thức ly thân từ năm 2019, đến nay vẫn không hàn gắn đoàn tụ được.

Về con chung: có 01 con chung là Trần Quốc B, sinh ngày: 26/11/2012, hiện tại do anh C trực tiếp nuôi dưỡng.

Về tài sản chung; Về nợ chung: Không yêu cầu.

Nay chị Lê Thị Mỹ D yêu cầu được ly hôn với anh Trần Hùng C; Về con chung: chị D đồng ý để anh C được tiếp tục nuôi dưỡng Trần Quốc B, sinh ngày: 26/11/2012; chị D không phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Trần Hùng C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng vẫn vắng mặt không đến Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: nguyên đơn chị Lê Thị Mỹ D có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt; bị đơn anh Trần Hùng C đã được Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: chị Lê Thị Mỹ D và anh Trần Hùng C kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào năm 2012 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không tin yêu nhau, không tôn trọng nhau, không thật sự quan tâm chăm sóc cho nhau, từ đó dẫn đến mất hạnh phúc và chính thức ly thân, trong suốt quá trình ly thân vợ chồng cũng không hàn gắn đoàn tụ được. Quá trình giải quyết vụ án anh C biết chị D xin ly hôn nhưng vẫn không đến Tòa án giải quyết. Từ đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị D là phù hợp.

Về con chung: các đương sự không có tranh chấp về việc nuôi con, cháu Trần Quốc B, sinh ngày: 26/11/2012 có nguyện vọng được sống chung với cha và chị D cũng đồng ý. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận để anh Trần Hùng C được quyền trực tiếp nuôi dưỡng Trần Quốc B, sinh ngày: 26/11/2012; chị Lê Thị Mỹ D chưa phải cấp dưỡng nuôi con, do anh C không yêu cầu. Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho chị D, không ai được cản trở.

Về tài sản chung; Về nợ chung: Đương sự không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; Các Điều 35, 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: chị Lê Thị Mỹ D và anh Trần Hùng C được ly hôn.

Về con chung: anh Trần Hùng C được quyền trực tiếp nuôi dưỡng Trần Quốc B, sinh ngày: 26/11/2012; chị Lê Thị Mỹ D chưa phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho chị D, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết chị Lê Thị Mỹ D và anh Trần Hùng C có quyền thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: chị Lê Thị Mỹ D phải nộp 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000674 ngày 10/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang. Chị D đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ