- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đoàn Văn G - Đỗ Thị N"
- Tòa quyết gì? Áp dụng vào các điều 9, 14, 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2023/HNGĐ-ST Ngày: 30 - 3 - 2023 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Sơn Ngọc Trọng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Hồng Ân.
Ông Vũ Minh Hoàng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký tòa án của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân.
Ngày 30 tháng 3 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 27/2023/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 01 năm 2023 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Đoàn Văn G, sinh năm 1987 (xin vắng mặt).
Cư trú: Ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau.
Bị đơn: Bà Đỗ Thị N, sinh năm 1991 (vắng mặt).
Cư trú: Ấp G, xã N, huyện P, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 18/01/2023 và các văn bản kèm theo ông Đoàn Văn G trình bày:
Về hôn nhân: Vào năm 2010, ông và bà Đỗ Thị N chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống thì giữa ông và bà N mâu thuẫn kéo dài, bất đồng quan điểm, ông và bà N đã hàn gắn nhiều lần nhưng không mang lại kết quả, cả hai không còn chung sống với nhau như vợ chồng từ tháng 4 năm 2022 cho đến nay. Ông xác định là không còn tình cảm dành cho bà N. Do mâu thuẫn đã trầm trọng, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, nên ông không thể đoàn tụ gia đình với bà N. Nay ông yêu cầu Tòa án xét xử cho ông ly hôn với bà Đỗ Thị N.
Về con chung: Trong quá trình chung sống có hai người con chung tên Đoàn Gia H (giới tính nam), sinh ngày 27/5/2012 và Đoàn Nhã T (giới tính nữ), sinh ngày 29/8/2014. Hiện Đoàn Gia H đang do ông nuôi dưỡng. Khi ly hôn ông yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng Đoàn Gia H và yêu cầu giao Đoàn Nhã T cho bà Đoàn Nhã T cho bà N nuôi dưỡng, không ai cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do công việc làm ăn xa nên việc đi lại khó khăn, ông Đoàn Văn G yêu cầu Tòa án không hòa giải và xin vắng mặt tham gia phiên tòa sơ thẩm và không có ý kiến gì khác.
Bà Đỗ Thị N đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đồng thời triệu tập xét xử nhiều lần nhưng bà N vẫn không tham gia tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Vụ án tranh chấp ly hôn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện, thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo lãnh thổ, được quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Ông Đoàn Văn G xin vắng mặt tham gia phiên tòa. Nay căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt là có căn cứ.
Bà Đỗ Thị N đã được Tòa án triệu tập tham gia tố tụng nhiều lần, nhưng bà N không cung cấp chứng cứ gì, bà N vắng mặt không có lý do. Nay căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt là có căn cứ.
[2] Về hôn nhân: Vào năm 2010, ông G và bà N chung sống với nhau như vợ chồng, đến nay dẫn không đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Cuộc sống chung phát sinh nhiều mâu thuẫn, cả hai không còn chung sống với nhau như vợ chồng từ tháng 4 năm 2022 cho đến nay mà không thể hàn gắn tình cảm. Ông Đoàn Văn G xác định không còn tình cảm dành cho bà N và ông G cương quyết ly hôn.
Xét thấy, quan hệ hôn nhân của ông Đoàn Văn G và bà Đỗ Thị N không thể tiếp tục duy trì, mục đích hôn nhân không đạt được. Hôn nhân giữa ông Đoàn Văn G và bà Đỗ Thị N đã và đang trong tình trạng trầm trọng. Bà N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không tham gia tố tụng, cho thấy bà N không mong muốn hàn gắn đoàn tụ gia đình. Đối với yêu cầu của ông G, bà N không có ý kiến gì. Do hôn nhân đã vi phạm quy định về điều kiện kết hôn theo Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình nên ông Đoàn Văn G và bà Đỗ Thị N không được công nhận là vợ chồng.
[3] Về con chung: Trong quá trình chung sống có hai người con chung tên Đoàn Gia H (giới tính nam), sinh ngày 27/5/2012 và Đoàn Nhã T (giới tính nữ), sinh ngày 29/8/2014. Hiện Đoàn Gia H đang do ông nuôi dưỡng. Khi ly hôn ông yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng Đoàn Gia H và yêu cầu giao Đoàn Nhã T cho bà N nuôi dưỡng. Mặc khác, Đoàn Gia H có nguyện vọng sống chung cùng với cha và Đoàn Nhã T có nguyện vọng sống chung cùng với mẹ nên có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của ông G, về việc cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
[4] Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, nên không đặt ra xem xét.
[5] Về nợ chung: Không có, nên không đặt ra xem xét.
[6] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Đoàn Văn G phải chịu theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 147, 227 và 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng vào các điều 9, 14, 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1. Về hôn nhân: Không công nhận ông Đoàn Văn G và bà Đỗ Thị N là vợ chồng.
2. Về con chung: Giao Đoàn Gia H (giới tính nam), sinh ngày 27/5/2012 cho ông Đoàn Văn G tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng; giao Đoàn Nhã T (giới tính nữ), sinh ngày 29/8/2014 cho bà Đỗ Thị N tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Đoàn Văn G và bà Đỗ Thị N không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Ông Đoàn Văn G và bà Đỗ Thị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
3. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Đoàn Văn G phải chịu 300.000 đồng. Ông Đoàn Văn G đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng, theo biên lai thu tiền số 0018548 ngày 30/01/2023, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, được đối trừ, chuyển thu.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Ông Đoàn Văn G và bà Đỗ Thị N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Phú Tân; - Chi cục THADS (khi có hiệu lực); - Phòng KTNV&THA (TAND tỉnh Cà Mau); - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu trữ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Sơn Ngọc Trọng |