vanban.org

Bản án 61/2023/HC-PT — Hành chính

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 10/02/2023 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/02/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bà Khà Thi ̣ T và giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2022/HC-ST ngày 11 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình:

Về án phí: Bà Khà Thi ̣ T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hành chính phúc thẩm, được đối trừ khoản tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai số 0000901 ngày 26/01/2022 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hòa Bình. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Khà Thị T - UBND tỉnh Hòa Bình - Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bà Khà Thi ̣ T và giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2022/HC-ST ngày 11 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 241 Luật Tố tụng hành chính; Điều 32 Luật Tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2023/HC-PT
Ngày: 10/02/2023
V/v Khiếu kiện quyết định hành chính
trong lĩnh vực quản lý đất đai

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cường;

Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Thúy Bình;

Ông Hồ Sỹ Hưng.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc - Thẩm tra viên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Bà Vũ Thị Thúy, Kiểm sát viên cao cấp tham gia phiên tòa.

Ngày 10 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 171/2022/TLPT-HC ngày 12 tháng 5 năm 2022 do có kháng cáo của người khởi kiện, đối với Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2022/HC-ST ngày 11 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 348/2023/QĐPT-HC ngày 12 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Người khởi kiện: Bà Khà Thị T, sinh năm 1967; nơi cư trú: Xóm M, xã CC, huyện MC, tỉnh Hòa Bình; có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Ông Hoàng Công T1, sinh năm 1959; địa chỉ: Tiểu khu 2, thị trấn LS, huyện LS, tỉnh Hòa Bình; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện:

- Luật sư Nguyễn Trọng T4– Văn phòng Luật sư ĐTP thuộc Đoàn luật sư tỉnh Hòa Bình; có mặt.

- Luật sư Nguyễn Thị H - Công ty Luật TNHH BB thuộc Đoàn luật sư thành phố Hà Nội; vắng mặt.

2. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình.

Người đại diện: Ông Quách Tất L – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Nguyễn Phương Đ – Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hòa Bình; có mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hòa Bình.

Người đại diện: Ông Nguyễn Phương Đ – Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hòa Bình; có mặt.

3.2. Ủy ban nhân dân huyện MC, tỉnh Hòa Bình.

Người đại diện: Ông Trần Tiến Đ1– Phó Trưởng phòng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện MC; có mặt.

3.3. Ủy ban nhân dân xã CC, huyện MC, tỉnh Hòa Bình.

Người đại diện: Ông Vì Văn M1 – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã CC; có mặt.

3.4. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên KT.

Người đại diện: Bà Phạm Thị T2– Phó Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên KT; có mặt.

3.5. Anh Lường Quang H1, sinh năm 1993; nơi cư trú: Xóm M, xã CC, huyện MC, tỉnh Hòa Bình và chị Lường Thị Huyền T3, sinh năm 1986; nơi cư trú: 165B, PH, phường CĐ, quận HK, thành phố Hà Nội; đều vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của anh H1 và chị T3: Ông Hoàng Công T1, sinh năm 1959; địa chỉ: Tiểu khu 2, thị trấn LS, huyện LS, tỉnh Hòa Bình; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

4. Người làm chứng:

4.1. Ông Hà Việt H2 (nguyên cán bộ địa chính xã); nơi cư trú: Xóm M, xã CC, huyện MC, tỉnh Hòa Bình; có mặt.

4.2. Ông Hà Văn H3 (nguyên chủ nhiệm hợp tác xã Xóm M); nơi cư trú: Xóm M, xã CC, huyện MC, tỉnh Hòa Bình; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngà y 06/8/2020 và đơn khởi kiê ̣n bổ sung ngà y 04/10/2021 của người khởi kiện bà Khà Thi ̣ T, người đại diện theo ủy quyền của bà T, ông Hoà ng Công T1 trình bày: bà T và chồng Lườ ng Quang G (đa chết̃ năm 2012) có tài sản chung là quyền sử du ̣ng đất số 00004 cấp tháng 11 năm 1997 vớ i tổng diê ̣n tich là 1847,1m2 mang tên Lườ ng Quang G trong đó đất trồng

́ lúa là 841,1m2 và đất màu là 1006m2, cu ̣ thể: số tờ bản đồ số 8 có thử a 337 ta ̣i N

- P - H6 vớ i diê ̣n tich lá

̀ 103m2, thử a 435 có diê ̣n tich lá

̀ 131m2 ta ̣i N - Khểnh, tờ bản đồ số 9 có thử a 156 có diê ̣n tich 300m2 ta ̣́

i N - Hia, thử

̉ a 336 có diê ̣n tich́ 230m2 ta ̣i N - Lác và thử a 313 có diê ̣n tich 77,1 m2 ta ̣́

i Hồ ML và diê ̣n tich 1006m2́ đất màu ta ̣i Hồ ML, thử a 313 và đất màu có thờ i gian sử du ̣ng đến năm 2045, các thử a khác có thờ i ha ̣n sử dụng năm 1995. Năm 2004, Ủ y ban nhân dân huyên MC̣ ban hành quyết đi ̣nh số 328/QĐ-UB ngày 20/5/2004 về việc cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng 160m2 đất màu sang đất thổ cư theo giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất số 887R364577, cấp ngày 08/6/2004. Sau khi được chuyển thi diê ̣̀

n tich́ đất màu còn la ̣i là 846m2.

Năm 2005 chồng bà T đi cải ta ̣o. Bà T đi cải ta ̣o từ năm 2009 đến năm 2017 thi đượ̀

c trả tự do trướ c ha ̣n. Khi trở về đi ̣a phương thi đượ̀

c biết toàn bô ̣ diê ̣n tich 846m2 đất màu đang bi ̣ Công ty KT sử du ̣ng và được Ủ y ban nhân dân

́ tinh cho thuê, trả

̉ tiền hàng năm từ năm 2010, diê ̣n tich cho thuê lá

̀ 917m2 để sử du ̣ng vào mu ̣c đich sá

̉n xuất, kinh doanh, được cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất ngày 05/4/2010. Quá trinh làm viê ̣c vớ i Ủ y ban nhân dân tinh thi bà T

̀

̉

̀ mớ i biết quyết đi ̣nh số 420/QĐ-UBND ngày 26/3/2010 về viê ̣c thu hồi đất của gia đinh và

̀ cho Công ty KT thuê. Quyết đi ̣nh này đa xâm pha ̣̃

m nghiêm tro ̣ng quyền lợi của bà, cu ̣ thể: Về nguồn gốc đất: Gia đinh sừ

̉ du ̣ng từ năm 1995, trong sổ mu ̣c kê có lưu ta ̣i Ủ y ban xa cũ ̃ng đa thể hiê ̣̃

n rõ quyền sử du ̣ng đất màu của gia đinh. Năm 2004, Ủ y ban nhân dân huyên cho phép chuyển đổi mục đích sự̉

̀ dụng 160m2 đất màu sang đất thổ cư theo giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất số 887R364577, cấp ngày 08/6/2004. Sau khi được chuyển thi diê ̣̀

n tich đấ

́t màu còn la ̣i là 846m2. Ngày 13/9/2011, đa chuyển nhượ̃

ng 40m2 cho ông Pha ̣m Quốc L1, ngày 27/01/2012 đa chuyển nhượ̃

ng 50m2 cho ông Pha ̣m Hồng L2, viê ̣c chuyển nhượng này đa đượ̃

c đinh chí

nh ta ̣́

i trang cuối của giấy chứ ng nhâ ̣n. Diê ̣n tich́ 70m2 còn la ̣i chuyển nhượng cho ông K nhưng hiê ̣n nay vẫn chưa làm thủ tu ̣c đăng ký biến đô ̣ng đất đai; Về thẩm quyền thu hồi đất: Ủ y ban tinh không thực

̉ hiê ̣n đúng quy đi ̣nh ta ̣i điểm b khoản 2 Điều 36 Nghi ̣ đi ̣nh 181/2004/NĐ - CP của Chinh phủ, gia đinh bà không thuô ̣c diê ̣n thu hồi; Về thông báo thu hồi đất: Ủ y

́

̀ ban tinh không thự̉

c hiê ̣n theo đúng quy đi ̣nh về công khai chủ trương thu hồi đất; phương án bồi thườ ng hỗ trợ tái đi ̣nh cư, nếu giả thiết gia đình bà đồng ý viê ̣c thu hồi đất thi Công ty KT phà

̉i thương lượng vớ i gia đinh về già

́ tri ̣ quyền sử du ̣ng đất. Ngày 06/8/2020, bà T đã làm đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh hủy Quyết định số 420/QĐ-UBND ngày 26/3/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình; Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất BA668036 do Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình cấp ngày 05/4/2010 và yêu cầu Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình trả lại hiện trạng quyền sử dụng đất màu cho gia đình bà.

Ngày 04/10/2021, bà T có đơn khở i kiê ̣n bổ sung: Diê ̣n tich 1006m2 đất

́ màu của gia đinh đang sừ

̉ du ̣ng có đă ̣c điểm: phia Đông Nam giá

́p đất đồi (đất lâm nghiê ̣p) là đất công có đô ̣ dài là 46m, gia đình bà D đang trồng tre và xoan, phia Tây Bắc giáp Quốc lô ̣ 15, phia Tây Nam giáp đất thổ cư nhà bà Ngô Thi ̣ H4

́

́

có đô ̣ dài 21m, phia đông bắ

́c giáp đất công do các cu ̣ phu ̣ lao trỗ

̀ng cây, đô ̣ dài khoảng 22m. Năm 2005, gia đinh gă ̣̀

p biến cố lớ n nên đã lần lượt chuyển nhượng toàn bô ̣ diê ̣n tich 160m2 đấ

́t ở , cu ̣ thể: chuyển nhượng cho ông Pha ̣m Hồng L2 100m2, ông Pha ̣m Quốc L1 diê ̣n tich 80m2 có

̀n la ̣i 120m2 đất ở trong đó có 60m2 đất ở , 60m2 đất vườ n bà T chuyển nhượng cho nhà KT nhưng chưa làm thủ tu ̣c đăng ký biến động đất đai, trên đất vẫn trồng màu (cây xoan, cây sưa). Diê ̣n tich́ đất màu còn la ̣i là 686m2, chiều rô ̣ng theo Quốc lô ̣ 12 là 31m. Trên đất trồng sắn sau đó trồng cây lâu năm là cây xoan, cây sưa. Như vâ ̣y trong khi gia đinh gă ̣̀

p biến cố, Ủ y ban nhân dân tinh lấy đất của gia đinh giao cho Công ty KT thuê,

̉

̀ không ban hành quyết đi ̣nh thu hồi, không có thỏa thuâ ̣n bồi thườ ng. Bà T yêu cầu Tòa án nhân dân tinh Hỏ

̀a Bình hủy mô ̣t phần Quyết định số 420/QĐ-UBND ngày 26/3/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình vi đã cấp chồng lên diê ̣̀

n tich́ 686m2 đất màu của gia đình. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất BA668036 do Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình ngày 05/4/2010 đối vớ i diê ̣n tich cấ

́p chồng là 686m2. Yêu cầu Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình trả lại hiện trạng ban đầu diê ̣n tich 686m2 đấ

́t màu mà gia đình đang sử du ̣ng trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00004 – QSDĐNN do Ủ y ban nhân dân huyện MC cấp tháng 11/1997 mang tên Lườ ng Quang G. Ta ̣i phiên ho ̣p tiếp câ ̣n công khải chứ ng cứ và đối thoa ̣i, bà T vẫn giữ nguyên yêu cầu khở i kiê ̣n chi thay đổ

̉i về diê ̣n tich cấp chồng từ 686m2 xuống chi ̉

́

còn cấp chồng lên diê ̣n tich đấ

́t màu của gia đinh bà

̀ T là 649,9m2.

Người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân tỉnh Hoà Bình có ý kiến trong quá trình giải quyết án (theo công văn số 1596/UBND-NC ngày 18/9/2020): Về trinh̀ tự, thủ tu ̣c hồ sơ cho Công ty KT thuê đất: Ngày 15/6/2009, Công ty KT có đơn xin thuê đất gử i Ủ y ban nhân dân tinh Hòa Binh. Ngày 18/6/2009, Ủ y ban nhân

̉

̀

dân xa CC ho ̣̃

p xác đi ̣nh mă ̣t bằng diê ̣n tich xin thuê đất. Ngày 25/6/2009, Ủ y ban

́

nhân dân xa CC ho ̣̃

p Hô ̣i đồng đăng ký đất đai mở rô ̣ng nhất tri cho Công ty KT́ thuê để thực hiê ̣n dự án. Ngày 06/7/2009, Ủ y ban nhân dân xa CC cõ

́ tờ trinh số

̀ 66/TTr –UBND về viê ̣c phê duyê ̣t kế hoa ̣ch xin thuê đất ta ̣i xó m M. Ngày 10/9/2009, Ủ y ban nhân dân huyên MC cọ

́ công văn về viê ̣c xin chủ trương thu hồi đất để lâ ̣p hồ sơ xin giao đất, thuê đất xây dựng cơ sở kinh doanh di ̣ch vu ̣. Ngày 09/11/2009, Sở Tài nguyên và Môi trườ ng tinh có công văn gử i Ủ y ban

̉ nhân dân tinh đề xuẩ

́t chi đa ̣̉ o các ngành liên quan xem xét, cho ý kiến viê ̣c Công ty KT thuê đất để xây dựng cơ sở sản xuất và bán hàng truyền thống. Ngày 18/11/2009, Ủ y ban nhân dân tinh giao Sở Tài nguyên và Môi trườ ng hướ ng dẫn

̉ đơn vi ̣ xin thuê đất thực hiê ̣n dự án theo quy đi ̣nh. Ngày 10/2/2010, Ủ y ban nhân dân tỉnh có công văn số 196/UBND-ĐT đồng ý cho Công ty KT thuê khoảng 930m2 ta ̣i xóm M. Ngày 08/4/2010, Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng huyện MC có Công văn số 03/CV-GPMB gửi Sở Tài nguyên và Môi trường báo cáo qua kiểm tra, xem xét lô đất, Công ty KT thuộc đối tượng không phải bồi thường về đất vi nguồn gốc đất là đất đồi chưa sử du ̣ng do Ủ y ban nhân dân xã

̀ CC quản lý, không có cây cối hoa màu trên đất, đề nghị Sở Tài nguyên và Môi trường xem xét làm thủ tục giao đất tại thực địa cho Công ty theo quy định. Ngày 26/3/2010, Ủ y ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 420/QĐ-UBND về việc thu hồi đất và cho Công ty KT xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh và bán hàng truyền thống. Ngày 29/4/2010, Ban Chi đạo bồi thường giả

̉i phóng mă ̣t bằng và hỗ trợ tái định cư tỉnh có Công văn số 10/BCĐ đề nghị Hội đồng giải phóng mă ̣t bằng huyện MC triển khai thực hiện. Sau khi có Quyết định thu hồi đất và văn bản về bồi thường giải phóng mặt bằng, Sở Tài nguyên và Môi trường tiến hành bàn giao đất trên thực địa, xác định đơn giá thuê đất cho Công ty, thực hiê ̣n việc ký hợp đồng thuê đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.

Đối vớ i quá trình cấp giấy chứng nhận và chuyển mục đích sử dụng đất cho hộ bà Khà Thị T. Năm 1997, ông Lường Quang G (vợ là bà Khà Thị T) được Ủ y ban nhân dân huyện MC cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tổng diê ̣n tích 1.847,1 m2 trong đó: Thửa đất số 337, tờ bản đồ số 8, diện tích 103m2 đất lúa 02 vụ; Thửa đất số 156, tờ bản đồ số 9, diện tích 300 m2đất lúa 02 vụ; Thửa đất số 336, tờ bản đồ số 9, diện tích 230 m2 đất lúa 02 vụ; Thửa đất số 435, tờ bản đồ số 8, diện tích 131 m2 lúa 01 vụ; Thửa đất số 313, diện tích 77,1 m2 đất mạ. Thửa đất cuối cùng, không có số thửa, không có tờ bản đồ, chỉ ghi diện tích 1006 m2 đất màu. Thời hạn sử dụng đất từ tháng 5/1995 đến tháng 5/2015, địa chi tại Hợp̉ tác xã M, xã CC, huyện MC. Ngày 05/3/2004, hộ bà Khà Thị T có đơn xin cấp giấy chứng nhâ ̣n quyền sử dụng đất được Chủ tịch Ủ y ban nhân dân xã CC xác nhâ ̣n; Đơn xin đăng ký biến động đất đai gử i Ủ y ban nhân dân xã CC diêṇ tich1006m2, không có số

́ thửa, tờ bản đồ, mu ̣c đich trố

̀ng màu, nay xin chuyển mu ̣c đich sử du ̣ng mô ̣t phần đất màu sang đất thổ cư, diê ̣n tich 160m2, Ủ y ban

́

́ nhân dân xa xã ́c nhâ ̣n ngày 15/3/2004. Ngày 23/12/2003, Ủ y ban nhân dân xã CC có biên bản xét duyê ̣t của Hội đồng đăng ký đất đai kết quả xét đơn đăng ký quyền sử dụng đất tên hộ bà Khà Thị T, diện tích 160m2, về hiện trạng sử dụng đất ổn định không tranh chấp, về nguồn gốc sử dụng đất tự kê khai theo Chỉ thị 64/CT-TTg về giao đất nông nghiệp, tranh chấp khiếu nại về đất đai không có, về quy hoạch sử dụng đất phù hợp với quy hoạch khu dân cư, tỷ lệ tán thành 100%, ngày 31/12/2003 Chủ tịch Ủ y ban nhân dân xã ký xác nhận. Ngày 15/3/2004, Ủ y ban nhân dân xã CC có tờ trình số 28/TT-UB gửi Ủ y ban nhân dân huyện MC, kèm theo trích lục bản đồ. Ngày 26/8/2004, phòng Địa chính Nông nghiệp xác nhận hồ sơ đủ điều kiện chuyển mục đích. Sau khi hoàn thiện các thủ tục hồ sơ ngày 20/5/2004, Ủy ban nhân dân huyện MC ban hành Quyết định số 328/QĐ-UB cho phép hộ bà Khà Thị T chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp trồng màu sang đất thổ cư, diện tích 160m2 thời hạn sử dụng lâu dài. Ngày 03/6/2004 hộ bà Khà Thị T đã thực hiện nghĩa vụ tài chính. Ngày 08/6/2004, Ủ y ban nhân dân huyện MC ban hành Quyết định số 405/QĐ-UB về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số giấy chứng nhận R364577 cho bà Khà Thị T với diện tích là 160m2, mục đích sử dụng đất là đất thổ cư, thời hạn sử dụng lâu dài, không có số thử a, không có tờ bản đồ và địa danh, vị trí thửa đất ở đâu. Như vậy, việc Ủ y ban nhân dân huyện MC cho phép chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp (trồng màu) sang đất thổ cư diện tích là không đúng quy định của pháp luật về đất đai vì biên bản xét duyệt của Hội đồng đăng ký đất đai là năm 2003 có trước khi hộ bà Khà Thị T có đơn xin chuyển mục đích sử dụng đất, hồ sơ không có trích lục, trích đo thử a đất, không có vị trí số tờ bản đồ, số thửa, không thể hiện trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Giấy chứ ng nhận quyền sử dụng cấp cho ông Lường Quang G và các hộ tại xóm M cùng thời điểm năm 1997 có cùng diện tích đất màu là 1006m2 không ghi vị trí đất tại đâu nhưng trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông G có ghi vị trí đất là Hồ MLvà sử a chữa thời hạn sử dụng đất từ năm 2015 thành năm 2045 dẫn đến việc Ủ y ban nhân dân huyện MC cho phép chuyển mục đích sử dụng đất không đúng vị trí diê ̣n tích đất màu được giao.

Như vậy, Quyết định số 420/QĐ-UBND ngày 26/3/2010 của Ủ y ban nhân dân tỉnh Hòa Bình là đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật nên viê ̣c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho Công ty KT thuê là đúng quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t. Đề nghi ̣ Tòa án nhân dân tinh Hỏ

̀a Binh bà

́c toàn bô ̣ yêu cầu khở i kiê ̣n của bà T.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan - Uỷ ban nhân dân huyê ̣n MC có ý kiến trong quá trinh giải quyết: Quyết định số 420/QĐ-UBND ngày 26/3/2010

̀ của Ủ y ban nhân dân tỉnh Hòa Bình về việc thu hồi đất và cho Công ty KT xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh và bán hàng truyền thống là đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Căn cứ nguồn gốc của đất thấy rằng vi ̣ tri thửá đất màu diện tích 1.006 m2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hộ ông G (bà T) chưa được đo đạc địa chính (không có số tờ bàn đồ, sổ thử a) và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có xứ đồng nên không xác định được vị trí thửa đất mầu dựa trên hồ sơ địa chính. Do đó, việc xác định vị trí của thử a đất màu đa được UBND huyện MC phối hợ̃

p với các cơ quan liên quan tổ chức thu thập ý kiến của những người dân tại xóm M - những người nắm được nguồn gốc đa xã ́c đi ̣nh diê ̣n tich đấ

́t màu này nằ m ở vi ̣ tri từ KP đến TLN. Theo tớ

̀ khai đăng ký quyền sử du ̣ng đất và sổ đi ̣a chinh thi diê ̣n tich đất 1006m2 do ông G kê

́

̀

́ khai là cùng mô ̣t loa ̣i đất, được xác đi ̣nh là đất trồng cây hàng năm thuô ̣c nhóm đất nông nghiê ̣p. Đối vớ i loa ̣i đất ta ̣i khu vực Công ty KT thuê đất và đất ông G chuyển mu ̣c đich sứ

̉ du ̣ng đất từ năm 1998, đa thự̃

c hiê ̣n dự án 327 thuô ̣c dự án rừ ng phòng hô ̣ huyê ̣n MC, khu đất được phân cho các hô ̣ để trồng luồng, lát. Năm 2003, thực hiê ̣n dự án bảo vê ̣ rừ ng tự nhiên năm thứ nhất thuô ̣c Dự án rừ ng phòng hô ̣ huyê ̣n MC, khu đất được giao cho các hô ̣ để trồng rừ ng bảo vê ̣ tự nhiên. Năm 2007, thực hiê ̣n dự án đo đạc, cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất lâm nghiê ̣p theo quyết đi ̣nh 672/QĐ - TTg ngày 28/4/2006 của Thủ tướ ng Chinh phú

̉, khu đất xác đi ̣nh là đất trồng rừ ng sản xuất; Từ năm 2010 đến nay, theo bản đồ hiê ̣n tra ̣ng sử du ̣ng đất qua các thờ i kỳ, vị trí thử a đất cho Công ty KT thuê được xác đi ̣nh là đất sản xuất, kinh doanh, thử a đất hộ ông G (bà T) được chuyển mu ̣c đich́ sử du ̣ng là đất ở do các hô ̣ gia đinh khà

́c sử du ̣ng ven đường được được xác đi ̣nh là đất ở, phần còn la ̣i của khu đất đều được xác đi ̣nh là đất trồng rừ ng sản xuất. Như vậy, vị trí của thửa đất 160 m2 được chuyển mục đích sử dụng không đúng với vi ̣ trí của thử a đất màu 1006m2. Quá trình xem xét, giải quyết hồ sơ của UBND xã CC và phòng Địa chính Nông nghiệp huyện MC vẫn còn có sai sót: Không xác nhận đầy đủ các nội dung về hiện trạng sử dụng đất, về quy hoạch sử dụng đất và lý do chuyển mục đích sử dụng đất; trích lục bản đồ địa chính thửa đất sai vị trí thửa đất; việc Hội đồng đăng ký đất đai lập biên bản xét duyệt đối với hồ sơ xin chuyển mục đích sử dụng đất là không có trong quy định; Không xem xét, nghiên cứu kỹ hồ sơ và không cho ý kiến về mức độ đầy đủ, chính xác của hồ sơ nên đã tham mưu cho Ủy ban nhân dân huyện quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất sai vị trí. Đề nghi ̣ Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Binh bà

́c toàn bô ̣ yêu cầu khở i kiê ̣n của bà Khà Thi ̣ T.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan - Sở Tà i nguyên và Môi trườ ng tỉnh Hòa Binh trinh bà y: Hồ sơ cho Công ty KT thuê đất được thực hiê ̣n đúng

̀

̀ trình tự, thủ tu ̣c theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t nên viê ̣c bà T khở i kiê ̣n yêu cầu hủy mô ̣t phần quyết định số 420/QĐ-UBND ngày 26/3/2010 của Ủ y ban nhân dân tỉnh và mô ̣t phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cấp cho Công ty KT là không đúng. Đề nghi ̣ Tòa án nhân dân tinh bả

́c toàn bô ̣ yêu cầu khở i kiê ̣n của bà T.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan - Uỷ ban nhân dân xã CC trinh

̀ bà y: Căn cứ Điều 103 Luâ ̣t Đất đai năm 2003, bản đồ định hướng khai thác đất chưa sử dụng năm 2000 và bản đồ hiê ̣n tra ̣ng sử du ̣ng đất năm 2001, 2005, Ủ y ban nhân dân xa CC xã

́c đi ̣nh diê ̣n tich đấ

́t ta ̣i xó m M, xa CC, huyê ̣̃

n MC, thờ i điểm cho Công ty KT thuê là đất chưa sử du ̣ng do Ủ y ban nhân dân xa quã

̉n lý. Ủ y ban nhân dân tinh Hòa Binh cho Công ty KT thuê đất là đúng thẩm quyền,

̉

̀ trình tự, thủ tu ̣c theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t. Đối vớ i diê ̣n tich đấ

́t cấp cho hô ̣ ông G năm 1997 là do Ủ y ban nhân dân xa CC bã

̀n giao diê ̣n tich 6ha đất màu ta ̣i Khu

́ KP đến Tin LN cho Hợp tác xa xóm M, thỡ

̀ i điểm đó không giao bằng văn bản nên hiê ̣n nay chi thu thâ ̣̉

p thông tin từ ông trưở ng xóm, chủ nhiê ̣m Hợp tác xã ngày trướ c và ngườ i dân xó m M ở thờ i điểm giao đất cho hô ̣ ông G để từ đó xác đi ̣nh diê ̣n tich đấ

́t màu của ông G không nằm vi ̣ tri đấ ́t của Công ty KT đang sử du ̣ng.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan - Công ty TNHH một thà nh viên KT trình bày: Ngày 26/3/2010, Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 420/QĐ-UBND về việc thu hồi đất và cho Công ty thuê để xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh và bán hàng truyền thống. Sau khi hoàn tất hồ sơ, Sở Tài nguyên và Môi trường đại diện cho Ủ y ban nhân dân tỉnh đã tiến hành ký hợp đồng cho Công ty thuê 917m2 tại Xóm M, xã CC, huyện MC, trả tiền thuê đất hàng năm. Uỷ ban nhân dân tỉnh đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất. Viê ̣c thuê đất của Công ty hoàn toàn hợp pháp và tuân thủ đúng các quy định pháp luâ ̣t. Bà T cho rằng diê ̣n tích đất của Công ty chồng lấn, có nguồn gốc là diê ̣n tích đất màu của bà T. Nhưng căn cứ vào lờ i khai của những ngườ i làm chứ ng và các bản đồ hiê ̣n tra ̣ng sử du ̣ng đất thi ̀ đất do Công ty sử du ̣ng là đất đồi thuô ̣c loa ̣i đất lâm nghiê ̣p nhưng đất của bà T có nguồn gốc là đất nông nghiê ̣p. Đề nghi ̣ Tòa án nhân dân tinh bả

́c toàn bô ̣ yêu cầu khở i kiê ̣n của bà T.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan - anh Lườ ng Quang H1, chi ̣ Lườ ng Thị Huyền T3 có ý kiến trong quá trinh giải quyết: anh, chi ̣ là con của ông

̀

G, bà T. Trong thờ i kỳ hôn nhân, bố me ̣ anh chi ̣ có khối tài sản chung là quyền sử du ̣ng đất 1847,1m2 ta ̣i xa CC, huyê ̣̃

n MC, tinh Hỏ

̀a Bình trong đó đất trồng lúa là 841,1m2, đất màu là 1006m2, viê ̣c cấp giấy chứ ng nhâ ̣n cho toàn bô ̣ diê ̣n tich́ trên là cấp cho hô ̣. Diê ̣n tich ná

̀y được gia đinh canh tà

́c từ năm 1995. Năm 2009, mẹ anh chị đi chấp hành án, khi đó chi ̣ T3 đi lấy chồng ở Hà Nô ̣i, còn anh H1 không ai chăm sóc nên cũng xuống Hà Nô ̣i làm thuê, không có ai ở nhà, khi me ̣ của anh chi ̣ chấp hành án xong về nhà phát hiê ̣n toàn bô ̣ diê ̣n tich đấ

́t màu còn la ̣i đã bi ̣ nhà nướ c thu hồi và cho Công ty tư nhân thuê nhưng không hề có bồ i thườ ng, chi đến khi cỏ

́ nhà báo vào cuô ̣c thi gia đì

nh anh chi ̣̀

mớ i biết được quyết đi ̣nh thu hồi Quyết định số 420/QĐ-UBND ngày 26/3/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình, viê ̣c làm này đa xâm pha ̣̃

m nghiêm tro ̣ng quyền lợi của gia đình. Đề nghi ̣ Tòa án giải quyết buô ̣c Ủ y ban nhân dân tinh thu hồi quyết đi ̣nh và trả

̉ la ̣i đất cho gia đinh anh, chi ̣̀

.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Khà Thi ̣ T, luật sư Nguyễn Trọng T4 trinh bà y: Gia đinh bà

̀ T được cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng

̀ 1006m2 đất màu vào tháng 11/1997. Năm 2004, Ủ y ban nhân dân huyên MC đạ

̃ nhất tri cho gia đinh bà T chuyển nhượng 160m2 đất màu thành đất thổ cư. Sau

́

̀ đó gia đinh bà

̀ T gă ̣p nhiều biến cố nên đa chuyển nhượ̃

ng cho ông Pha ̣m Hồng L2 100m2; ông Pha ̣m Quốc L1 diê ̣n tich 80m2; chuyển nhượng cho nhà KT 120m2́ đất ở trong đó có 60m2 đất ở , 60m2 đất vườ n, viê ̣c chuyển nhượng cho nhà KT chưa làm thủ tu ̣c đăng ký đất đai. Vi vâ ̣y, sau khi chuyển đổi đất thổ cư thi diê ̣n

̀

̀ tich đấ

́t màu còn la ̣i là 686m2. Căn cứ vào giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất cho ông G thi viê ̣c Ủ y ban nhân dân tinh Hòa Binh đa ra quyết đi ̣̃

nh thu hồi 917m2

̀

̉

̀

để cho Công ty KT thuê và cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất cho Công ty đã chồng lấn lên diê ̣n tich đấ

́t màu còn la ̣i của gia đình bà T là 649,9m2. Để đảm bảo quyền lợi cho gia đinh bà

̀ T, đề nghi ̣ Tòa án nhân dân tỉnh chấp nhâ ̣n toàn bô ̣ yêu cầu khở i kiê ̣n của bà T.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện, ông Nguyễn Văn S - Phó Giá m đốc Sở tư phá p và ông Nguyễn Phương Đ - Phó giá m đốc Sở Tà i nguyên và Môi trườ ng trinh bà y: Quyết định số 420/QĐ-UBND ngày

̀ 26/3/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình là khách quan, đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật. Vi vâ ̣̀ y viê ̣c cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất cho Công ty KT thuê là đúng. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà T.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Ủy ban nhân dân huyện MC, ông Khà Văn T4 – Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện MC trình bày: Thực trạng chính sách quản lý đất đai những năm trướ c đây còn lỏng lẻo, việc kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cơ sở người dân tự kê khai và chịu trách nhiệm. Vì vậy dẫn đến việc đa đỗ ̀ng ý cho bà T chuyển đổi không đúng loa ̣i đất, vi ̣ tri đấ ́t. Ông T4 giữ nguyên quan điểm giải quyết vụ án tại Công văn số 1517/UBND –VP ngày 06/11/2020 và Công văn số 1571/UBND–TNMT ngày 30/9/2021 của Ủy ban nhân dân huyện MC.

Người làm chứng, ông Hà Việt H2 trình bày: Việc Ủy ban nhân dân tỉnh cho thuê và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho KT là đúng. Đối với việc chuyển đổi đất màu, do tin tưởng bà T nên khi bà T có đặt vấn đề muốn chuyển đổi mảnh đất tại ở M Luông, ông đã không kiểm tra lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng như đối chiếu với sổ sách nên đã có việc chuyển đổi không đúng vị trí. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình bác đơn khởi kiện của bà T.

Ngườ i là m chứ ng, ông Hà Văn H3 trinh bà y: Khoảnh đất tinh tứ

̀ đất giáp

̀

Công ty KT bây giờ kéo dài đến tâ ̣n hồ 3/2, thờ i điểm năm 1996 mưa to, đất ta ̣i khu vực đó bi ̣ nứ t, sa ̣t lở nên năm 1997, huyê ̣n có chủ trương thực hiê ̣n đất trồng rừ ng để chống sa ̣t lở . Thờ i điểm đó, ông là Kế toán của Hợp tác xa xõ ́ m M nên cũng tham gia kêu go ̣i xa viên phã

́t cây cỏ để tiến hành khảo sát thiết kế để trồng rừ ng. Đến đầu năm 1998 thi hoà

̀n tất hồ sơ thực hiê ̣n dự án, đó là dự án 327 thuô ̣c dự án trồng rừ ng phòng hô ̣. Khoảnh đất trồng rừ ng được chia thành 9 lô, trong đó có 9 ngườ i đứ ng ra đa ̣i diê ̣n cho các hô ̣ để hoàn thiê ̣n hồ sơ. Đất trồng rừ ng này do Hợp tác xa chia cho cã

́c hô ̣ để thực hiê ̣n dự án 327, nhà ông G được chia đầu tiền, sau đó đến nhà ông H5 rồi đến các hô ̣ khác do có hơn 140 hô ̣ nên ông không nhớ các hô ̣ khác. Sau khi được chia, ông thấy diê ̣n tich đấ

́t ông G được chia có trồng luồng, bương, ai trồng thi ông không biết. Đồ

́i vớ i diê ̣n tich đấ

́t màu, gia đinh ông cũng được chia 745m2 cho 03 nhân khẩu ta ̣i KX. Ông được biết, gia

̀ đinh ông G đượ̀

c chia ở khu KP - Tin LN. Diê ̣n tich đấ

́t màu của ông cũng như các hô ̣ dân được cấp cùng thờ i điểm vớ i hô ̣ ông G đều không ghi vi ̣ tri ớ ̉ đâu vi ̀ thực tế có hô ̣ thi sừ ̉ du ̣ng hai năm, có hô ̣ không đến thực đi ̣a để nhâ ̣n đất nên diê ̣n tich đấ

́t màu của các hô ̣ trải dài từ khu KP đến Tin LN bi ̣ bỏ H6 từ thờ i điểm đó.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2022/HC-ST ngày 11 tháng 01 năm 2022, Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình quyết định:

Căn cứ Điều 30, Điều 32, khoản 2 Điều 116, điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 348, Điều 358, Điều 206 và Điều 164 Luật Tố tụng hành chính; căn cứ Điều 37, Điều 44 Luật đất đai năm 2003, sử a đổi năm 2009; căn cứ Điều 27, 28, 29, 30, 31 Nghi ̣ đi ̣nh 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 quy đi ̣nh bổ sung về quy hoạch sử du ̣ng đất, giao đất, thu hồi đất, bồi thườ ng, hỗ trợ và tái đi ̣nh cư; căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án;

Xử: Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Khà Thi ̣ T về việc yều cầu hủy mô ̣t phần Quyết định số 420/QĐ - UBND ngày 26/3/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình, hủy mô ̣t phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất BA668036 mang tên Công ty TNHH một thành viên KT do Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình cấp ngày 05/4/2010 và trả lại hiện trạng ban đầu diê ̣n tich 649,9m2 đất màu do Ủ y ban nhân dân huyên MC cậ

́p

́ tháng 11/1997 mang tên Lườ ng Quang G.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 24/01/2022, bà Khà Thị T có đơn kháng cáo, đề nghị sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà T.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bà Khà Thị T và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bà T đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại vụ án.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện đồng thời là đại diện Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Hòa Bình, đại diện của Ủy ban nhân dân huyện MC, đại diện Ủy ban nhân dân xã CC và đại diện Công ty KT đều đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Khà Thị T, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội nêu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính, bác yêu cầu kháng cáo của bà Khà Thị T, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

. Tại đơn đề ngày 31/01/2023 và tại phiên tòa phúc thẩm, luật sư Nguyễn Trọng T4và bà Khà Thị T đề nghị thay đổi chủ tọa phiên tòa, lý do: Thẩm phán ban hành Quyết định số 9996/2022/QĐ-PT ngày 24/10/2022 và Quyết định số 12546/2022QĐPT-HC ngày 26/12/2022 đưa vụ án ra xét xử, không đưa luật sư tham gia bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bà T; Quyết định số 348/2023/QĐPT-HC ngày 12/01/2023 đưa vụ án ra xét xử, do thẩm phán Lê Thị Thúy Bình, không phải là chủ tọa (ký), thể hiện không vô tư khách quan khi giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử phúc thẩm, thấy: Việc ban hành các quyết định nêu trên không vi phạm Điều 14 và Điều 146 Luật Tố tụng Hành chính. Mặt khác, Quyết định số 9996 và Quyết định số 12546 nêu trên là các phiên tòa đã hoãn, không ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự. Vì vậy, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại phiên tòa, không chấp nhận đề nghị của Luật sư Nguyễn Trọng T4 và bà Khà Thị T nêu trên.

. Tại phiên tòa, bà T, luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà T cho rằng, Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm tố tụng như: vi phạm về việc thu thập chứng cứ, thu thập chứng cứ không đúng quy định của pháp luật, cụ thể: tự ý giám định, thẩm định không có yêu cầu của đương sự và Tòa án thống nhất để các cán bộ cơ quan nhà nước thống nhất lời khai nhằm gây bất lợi cho bà T, đề nghị hủy bản án sơ thẩm. Tuy nhiên, bà T và luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bà T không xuất trình được chứng cứ chứng minh. Vì vậy, không có cơ sở để chấp nhận.

. Quyết định số 420/QĐ-UBND ngày 26/3/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất BA668036 do Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình cấp ngày 05/4/2010 là quyết định hành chính thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính theo quy định tại Điều 3, Điều 30 Luật Tố tụng hành chính. Căn cứ vào Điều 32 Luật Tố tụng hành chính, Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý đúng thẩm quyền.

Ngày 11/5/2020, bà T biết Quyết định số 420/QĐ-UBND ngày 26/3/2010 và giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắ n liền vớ i đất cấp cho Công ty KT đa xâm phạm quyền lợi của gia đình bà. Ngã

̀y 06/8/2020, bà T nô ̣p đơn khở i kiê ̣n ta ̣i Tòa án là đảm bảo thời hiệu khởi kiện theo quy định tại khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.

. Về nội dung vụ án:

. Xét đơn kháng cáo của bà T về việc yêu cầu Tòa án hủy mô ̣t phần Quyết định số 420/QĐ-UBND ngày 26/3/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình vi đã cấp chồng lên diê ̣̀

n tich 649,9m2 đấ

́t màu của gia đình và hủy giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền vớ i đất cấp cho Công ty KT.

. Về thẩm quyền ban hành quyết định: Quyết định số 420/QĐ-UBND ngày 26/3/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình là quyết đi ̣nh thu hồi đất và cho Công ty KT thuê để xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh và bán hàng truyền thống. Ủ y ban nhân dân tinh Hòa Binh ban hành quyết đi ̣nh là đúng thẩm quyền

̉

̀

theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều 44 Luâ ̣t Đất đai năm 2003, sử a đổi năm 2009.

. Về hinh thừ

́ c, trình tự, thủ tục ban hành quyết định: Căn cứ vào đơn xin thuê đất của Công ty KT, Ủ y ban nhân dân xa CC ho ̣̃

p xác đi ̣nh mă ̣t bằng diê ̣n tich xin thuê đất và ngày 25/6/2009, Ủ y ban nhân dân xa đã ̃ ho ̣p Hô ̣i đồng

́ đăng ký đất đai mở rô ̣ng, nhất tri cho Công ty KT thuê để thự́

c hiê ̣n dự án. Ngày 06/7/2009, Ủ y ban nhân dân xa CC cõ

́ tờ trinh phê duyê ̣t kế hoa ̣ch xin thuê đất

̀

ta ̣i xóm M. Ngày 10/9/2009, Ủ y ban nhân dân huyên MC cọ

́ công văn xin chủ trương thu hồi đất để lâ ̣p hồ sơ xin thuê đất, xây dựng cơ sở kinh doanh di ̣ch vu ̣. Ngày 18/11/2009, Ủ y ban nhân dân tinh giao Sở Tài nguyên và Môi trườ ng hướ ng

̉

dẫn đơn vi ̣ xin thuê đất thực hiê ̣n dự án theo quy đi ̣nh. Ngày 10/02/2010, Ủ y ban nhân dân tinh đổ

̀ng ý cho Công ty KT thuê khoảng 930m2 ta ̣i xóm M. Trên cơ sở tờ trinh sồ

́ 51/TTr-STNMT ngày 16/3/2010 của Sở Tài nguyên và Môi trườ ng, Ủ y ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 420/QĐ-UBND ngày 26/3/2010 về việc thu hồi đất và cho Công ty KT xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh và bán hàng truyền thống. Ngày 08/4/2010, Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng huyện MC báo cáo Sở Tài nguyên và Môi trường, sau khi kiểm tra, xem xét thi lô đất cho Công ty KT thuê thuộc đối tượng không phải bồi thường về đất vì

̀ nguồn gốc đất là đất đồi chưa sử du ̣ng do Ủ y ban nhân dân xã CC quản lý, không có cây cối hoa màu trên đất, đề nghị Sở Tài nguyên và Môi trường xem xét làm thủ tục giao đất tại thực địa cho Công ty theo quy định. Ngày 29/4/2010, Ban Chi ̉ đạo bồi thường giải phóng mă ̣t bằng và hỗ trợ tái định cư tỉnh yêu cầu Hô ̣i đồng giải phóng mă ̣t bằng huyện MC triển khai thực hiện. Sau khi có Quyết định thu hồi đất và văn bản về bồi thường giải phóng mặt bằng, Sở Tài nguyên và Môi trường đa tiến hành bàn giao đất trên thực địa, xác định đơn giá thuê đẫ

́t cho Công ty, thực hiê ̣n việc ký hợp đồng thuê đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định. Như vâ ̣y, về hinh thừ

́ c, trình tự, thủ tu ̣c khi thu hồi đất và cho Công ty TNHH KT thuê được thực hiê ̣n đúng quy đi ̣nh ta ̣i Điều 27, 28, 29, 30, 31 Nghi ̣ đi ̣nh 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 quy đi ̣nh bổ sung về quy hoa ̣ch sử du ̣ng đất, giao đất, thu hồi đất, bồi thườ ng, hỗ trợ và tái đi ̣nh cư.

. Tại đơn khởi kiện và đơn kháng cáo bà T cho rằng, UBND cấp cho Công ty KT thuê 917,0m2 chồng lấn lên diện tích 1006m2 của ông G (chồng bà T) được cấp GCNQSDĐ. Hô ̣i đồng xét xử phúc thẩm, thấy:

a) Các giấy tờ xác định nguồn gốc đất liên quan đến diện tich 1006m2 ĐRM

́

- “Sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” tháng 5 năm 1995 (BL218) thể hiện, ông Lường Quang G được cấp 1847,1 m2 tổng số 6 thửa, gồm: (8), 337,345; (9), 156,336,313c,313a, không ghi diện tích các thửa.

- Theo “Tờ khai xin đăng ký quyền sử dụng đất và kết quả xét duyệt của Hội đồng giao đất” ngày 11/8/1995, do ông Lường Quang G khai thì: các thửa đất số 1 diện tích 103m2 (loại ruộng đất: hai lúa, xứ đồng: phá H6); thửa số 2, diện tích 300m2 (loại ruộng đất: hai lúa, xứ đồng: N lúa); thửa số 3, diện tích 230m2 (loại ruộng đất: hai lúa, xứ đồng: N L3); thửa số 4, diện tích 131m2 (loại ruộng đất: một lúa, xứ đồng: N K1); thửa số 5, diện tích 77,1m2 (loại ruộng đất: 5, xứ đồng: N N); thửa số 6, diện tích 1006m2 (loại ruộng đất: màu, xứ đồng: đất màu, không có số thửa, có xác nhận của chủ nhiệm hợp tác xã NBP, chủ tịch xã.

- Theo Sổ ghi chép của Hợp tác xã M C, ngày 01/7/1997, mang tên Lườ ng Quang G, cu ̣ thể: gồm 03 nhân khẩu, tờ bản đồ số 8, thử a 337 ta ̣i phá H6, vớ i diê ̣n tich lá

̀ 103m2 mục đích sử dụng 2 lúa; tờ bản đồ số 9, thử a 156 ta ̣i N H7, vớ i diê ̣n tich lá

̀ 300m2 mục đích sử dụng 2 lúa; tờ bản đồ số 10, thử a 6 ta ̣i N L3, vớ i diê ̣n tich lá

̀ 230m2 mục đích sử dụng 2 lúa và 1006m2 mục đích sử dụng: mầu, không có số thửa (ngoài ra thửa số 345, diện tích 131m2, xứ đồng: N K1; diện tích 77,1m2 xứ đồng: N N, đã bị gạch ngang).

- “Sổ địa chính” số 00004 cấp tháng 11 năm 1997, mang tên Lườ ng Quang G, tại Xóm M, xã CC, cu ̣ thể: tờ bản đồ số 8, thử a 337 phá H6, vớ i diê ̣n tich lá

̀ 103m2 mục đích sử dụng lúa, tờ bản đồ số 9, thử a 156 ta ̣i N Húa, vớ i diê ̣n tich lá

̀ 300m2 mục đích sử dụng lúa; tờ bản đồ số 10, thử a 6 ta ̣i N L3, vớ i diê ̣n tich lá

̀ 230m2 mục dích sử dụng lúa, Ruộng mạ Tbi và diê ̣n tich 1006m2 ĐRM “đấ

́t nông nghiệp trồng cây hàng năm”, không có số thửa.

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 331480, mang tên Lườ ng Quang G, được Ủ y ban nhân dân huyên MC cậ

́p tháng 11/1997, được quyền sử dụng 1847,1m2 tại HTX M, xã CC, huyện MC, tỉnh Hòa Bình, thì:

+ Tờ bản đồ số 8, thử a 337 phá H6, vớ i diê ̣n tich lá

̀ 103m2 mục đích sử dụng lúa (N-P-H6),

+ Tờ bản đồ số 9, thử a 156 N Húa, vớ i diê ̣n tich lá

̀ 300m2 mục đích sử dụng 2lúa (5-1995, N-H7);

+ Tờ bản đồ số 9, thử a 336 ta ̣i N- L3, vớ i diê ̣n tich lá

̀ 230m2 mục đích sử dụng 2lúa (5-1995, N-L3);

+ Tờ bản đồ số 9, thử a 336 ta ̣i N- L3, vớ i diê ̣n tich lá

̀ 230m2 mục đích sử dụng 2lúa (5-1995, N-L3);

+ Tờ bản đồ số 8, thử a 435 ta ̣i N- K1, vớ i diê ̣n tich lá

̀ 131m2 mục đích sử dụng một vụ (5-1995);

+ Tờ bản đồ số 9, thử a 313c 77,1 mạ (5-1995);

+ Diê ̣n tich 1006m2 ĐRM “đấ

́t nông nghiệp trồng cây hàng năm”, Hồ ML (BL 295).

Hội đồng xét xử phúc thẩm, thấy: Các giấy tờ đều không thống nhất với nhau về ký hiệu tờ bản đồ, số thửa; đặc biệt “Sổ địa chính” số 00004 cấp tháng 11 năm 1997 diê ̣n tich 1006m2 ĐRM “đấ

́t nông nghiệp trồng cây hàng năm” không có số thửa, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 331480, mang tên Lườ ng Quang G, được Ủ y ban nhân dân huyên MC cậ

́p tháng 11/1997 mới ghi diê ̣n tich 1006m2 ĐRM “đấ

́t nông nghiệp trồng cây hàng năm”,“Hồ ML”. “Hồ ML” là khu vực UBND cấp cho Công ty KT thuê.

Tuy nhiên, tại Kết luâ ̣n giám đi ̣nh số 29/KLGĐ-CAT-PC09 ngày 08/02/2021 của Phòng ky thuâ ̣̃

t hình sự Công an tỉnh đa xã ́c đi ̣nh chữ viết “Hồ ML” vớ i chữ viết còn la ̣i trong giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất cấp cho hô ̣ ông G không phải do cùng mô ̣t ngườ i viết ra, chữ viết “Hồ ML” này đa đượ̃

c mô ̣t ngườ i khác viết thêm vào sau khi đa viết xong cã

́c nô ̣i dung trên giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Ủ y ban nhân dân xã CC cung cấp “Sổ địa chính” quyển số 1, ngày 05/9/2002 và bản đồ địa chính “quyển gốc”. Hội đồng xét xử phúc thẩm xem và thấy: Diê ̣n tich 1006m2 ĐRM “đấ

́t nông nghiệp trồng cây hàng năm” không có số thửa, không có địa danh, không có thời gian sử dụng, không có chữ “Hồ ML”.

Tại Công văn số 23/TNMT-ĐĐ ngày 12/4/2021, Phòng Tài nguyên Môi trường huyện MC, xác định: hiện không có hồ sơ địa chính lưu trữ, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do người dân tự khai.

Hội đồng xét xử phúc thẩm, nhận thấy: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 331480, mang tên Lườ ng Quang G, tháng 11/1997, được quyền sử dụng 1847,1m2 tại HTX M, xã CC, huyện MC, tỉnh Hòa Bình, trong đó có diê ̣n tich́ 1006m2 ĐRM. Diê ̣n tich 1006m2 ĐRM không có số thửa, không có địa danh,́ không có thời gian sử dụng, không có chữ “Hồ ML”.

b) Các Cơ quan chức năng đều xác định diện tích 1006m2 ĐRM không thuộc khu đất đang tranh chấp mà UBND cấp cho Công ty KT thuê.

- Tại “Biên bản làm việc” ngày 11/9/2020, tại UBND xã CC, huyện MC, tỉnh Hòa Bình, đại diện Phòng tài Nguyên Môi trường, đại diện UBND xã CC, một số nguyên cán bộ chính quyền địa phương và một số hộ dân xóm M đều xác định diện tích 1006m2 ĐRM các hộ được cấp khu vực “TLN” Đội 1, Xóm M, khu vực khoảng 6ha, đã bỏ H6 từ lâu, không thuộc khu vực “Hồ ML” mà UBND cấp cho Công ty KT thuê.

- Tại Công văn số 790/DS-UBND ngày 27/12/2022, UBND xã CC xác định danh sách 41 hộ đều được cấp diện tích 1006m2 tại Xóm M từ năm 1997, không có số thửa, vị trí, Trích lục từ quyển 01, sổ địa chính xã CC năm 2002, chủ yếu cấp để tính thuế, cùng khu vực, không đi thực địa.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bà T xác định 41 hộ đều được cấp diện tích 1006m2 nhưng chỉ mình bà T được cấp khu đất “Hồ ML” mà UBND đã cấp cho Công ty KT thuê. Tuy nhiên, bà T không cung cấp chứng cứ chứng minh, không phù hợp thực tế.

- Tại Biên bản thẩm định tại chỗ ngày 08/12/2022, do Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình thực hiện theo quyết định số 10596/2022/QĐ-UTTA ngày 09/11/2022 Ủy thác tư pháp của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, cụ thể:

+ Đại diện Ủy ban nhân dân huyện MC ý kiến: Khu vực đất diện tích 1006m2 ĐRM các hộ được cấp khu vực “TLN” Đội 1, Xóm M, khu vực khoảng 6ha, cấp cho gia đình ông G từ năm 1997, không đi thực địa mà chỉ căn cứ bản kê khai của người dân, không xác định được vị trí chính xác, nhưng khẳng định diện tích 1006m2 ĐRM không thuộc khu đất đang tranh chấp mà UBND cấp cho Công ty KT thuê.

+ Đại diện Ủy ban nhân dân xã CC khẳng định diện tích 1006m2 ĐRM không thuộc khu đất đang tranh chấp mà UBND cấp cho Công ty KT thuê và khẳng định đồi đất mầu tại Xóm M chỉ nằm tại khu KP-TLN-Là nam-KX, ngoài ra các khu vực khác không có đất mầu. Việc chia đất diện tích 1006m2 ĐRM các hộ giống nhau (41 hộ), các hộ vẫn đang sử dụng để trồng sắn, trồng chuối… có hộ thì bỏ H6 (kèm theo danh sách các hộ và một số giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).

+ Biên bản thẩm định có chữ ký của ông Hoàng Công T1, bà Khà Thị T, luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà T - ông Nguyễn Trọng T, cán bộ địa chính - ông Hà Văn A, trưởng xóm - ông Hà Văn C, đại diện UBND xã CC - ông Vì Văn M1, phó chủ tịch và đại diện Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Hòa Bình - ông Bạch Văn A1.

- Tại phiên tòa phúc thẩm: Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: ông Nguyễn Phương Đ- Phó giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh và đại diện Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Hòa Bình, đại Ủy ban nhân dân huyện MC và đại diện Ủy ban nhân dân xã CC, huyện MC, tỉnh Hòa Bình đều xác định diện tích 1006m2 ĐRM không thuộc khu đất đang tranh chấp mà UBND cấp cho Công ty KT thuê.

c) Các nhân chứng khẳng định diện tích 1006m2 ĐRM không thuộc khu đất đang tranh chấp mà UBND cấp cho Công ty KT thuê.

Tại phiên tòa phúc thẩm nhân chứng là ông Hà Việt H2 nguyên cán bộ địa chính xã và ông Hà Văn H3 cho rằng, diện tích 1006m2 ĐRM không thuộc khu đất đang tranh chấp mà UBND cấp cho Công ty KT thuê.

Theo lờ i khai của ông H3 cũng như mô ̣t số hô ̣ dân thi diê ̣̀

n tich đấ

́t màu của các hô ̣ (trong đó có hô ̣ ông G) có vi ̣ tri ta ̣́ i Khu KP đến Tin LN và diê ̣n tich́ đất màu được cấp trong giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất của các hô ̣ cùng thờ i điểm cấp cho hô ̣ ông G đều không ghi vi ̣ tri và diện tích 1006m2 ĐRM khônǵ thuộc khu đất đang tranh chấp mà UBND cấp cho Công ty KT thuê.

Theo nhân chứng, đại diện chính quyền địa phương xác nhận đất diện tích 1006m2 ĐRM không thuộc khu đất mà UBND cấp cho Công ty KT thuê và khẳng định đồi đất mầu tại Xóm M chỉ nằm tại khu KP-TLN-Là nam-KX, ngoài ra các khu vực khác không có đất mầu. Diện tích 1006m2 ĐRM các hộ được cấp khu vực “TLN” Đội 1, Xóm M, khu vực khoảng 6ha, đã bỏ H6 từ lâu và cũng phù hợp với việc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 331480, mang tên Lườ ng Quang G, được Ủ y ban nhân dân huyên MC cậ

́p tháng 11/1997 mới ghi diê ̣n tich

́ 1006m2 ĐRM “đất nông nghiệp trồng cây hàng năm”, có viết thêm“Hồ ML” nhằm thay đổi vị trí khu đất diê ̣n tich 1006m2 ĐRM từ khu vực “́

TLN” Đội 1, Xóm M sang khu vực “Hồ ML”.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện không chứng minh được diê ̣n tich 1006m2 ĐRM “đấ

́t nông nghiệp trồng cây hàng năm”, khu vực “Hồ ML” là diện tích đất mà UBND cấp cho Công ty KT thuê.

đ) Căn cứ thực trạng khu đất Hồ ML (bao gồm diện tích trướ c khi cho Công ty KT thuê).

Căn cứ vào các tài liê ̣u có trong hồ sơ vu ̣ án, thấy rằng toàn bộ khu đất đối diện với Hồ ML (bao gồm diện tích trướ c khi cho Công ty KT thuê và ông G chuyển mu ̣c đich sứ

̉ du ̣ng), năm 1996 có trâ ̣n mưa làm sa ̣t lở đất nên năm 1997 Ủ y ban nhân dân huyên đạ

cõ ́ chủ trương trồng rừ ng chống sói mòn, từ năm 1998 đã thực hiê ̣n dự án 327 thuô ̣c dự án rừ ng phòng hô ̣ huyê ̣n MC, khu đất được phân cho các hô ̣ để trồng luồng, lát. Năm 2000, toàn bộ khu vực đất Ny được xác định là đất chưa sử dụng (theo bản đồ định hướng khai thác đất chưa sử dụng năm 2000). Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2001, toàn bộ khu vực đất đối diện với Hồ ML chỉ có loại đất núi đá không có rừng cây, đất trồng rừng và đất khu dân cư. Năm 2003, thực hiê ̣n dự án bảo vê ̣ rừ ng tự nhiên năm thứ nhất thuô ̣c Dự án rừ ng phòng hô ̣ huyê ̣n MC, khu đất được giao cho các hô ̣ để trồng rừ ng bảo vê ̣ tự nhiên. Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2005, khu vực đất Ny chỉ có loại đất thổ cư, đất trồng rừng và đất đồi chưa sử dụng. Theo bản đồ hiê ̣n tra ̣ng sử du ̣ng đất qua các thờ i kỳ, vị trí thử a đất cho Công ty KT thuê được xác đi ̣nh là đất sản xuất kinh doanh, còn đất do các hô ̣ gia đinh khà

́c sử du ̣ng ven đường được xác đi ̣nh là đất ở , phần còn la ̣i của khu đất đều được xác đi ̣nh là đất trồng rừ ng sản xuất. Như vâ ̣y, nguồn gốc diện tích đất Công ty KT đang sử du ̣ng cũng như toàn bộ khu vực đất xung quanh đó không có loại đất nông nghiệp (trồng màu) chỉ có loa ̣i đất lâm nghiê ̣p, đất ở.

e) Bà T, ông T1 cho rằng, Quyết đi ̣nh số 328/QĐ-UB ngà y 20/5/2004 của Ủ y ban nhân dân huyê ̣n cho phé p chuyển đổi mục đich sử dụng đất 160m2 đất

́ mà u sang đất thổ cư, cấp giấy chứ ng nhận quyền sử dụng đất thổ cư cho bà Khà Thi ̣ T.

Theo bà T: năm 2005, gia đinh gă ̣̀

p biến cố lớ n nên đa lẫ ̀n lượt chuyển nhượng toàn bô ̣ diê ̣n tich 160m2 đấ

́t ở , cu ̣ thể: chuyển nhượng cho ông Pha ̣m Hồng L2 100m2, ông Pha ̣m Quốc L1 diê ̣n tích 80m2 còn la ̣i 120m2 đất ở trong đó có 60m2 đất ở , 60m2 đất vườ n bà T chuyển nhượng cho nhà KTnhưng chưa làm thủ tu ̣c đăng ký biến động đất đai, trên đất vẫn trồng màu (cây xoan, cây sưa). Diê ̣n tich đất màu còn la ̣i là 686m2, Ủ y ban nhân dân tinh lấy đất của gia đinh

́

̉

̀ giao cho Công ty KT thuê, không ban hành quyết đi ̣nh thu hồi, không có thỏa thuâ ̣n bồi thườ ng.

Hội đồng xét xử phúc thẩm, thấy:

Theo lời khai có trong hồ sơ và tại phiên tòa phúc thẩm, ông Hà Việt H2 “cán bộ địa chính thời điểm đó”, cho rằng, do tin tưởng bà T nên khi bà T có đặt vấn đề muốn chuyển đổi mục đích sử dụng đất, trong GCNQSDĐ có chữ “Hồ ML”, ông đã không kiểm tra lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng như đối chiếu với sổ sách nên đã có việc chuyển đổi không đúng vị trí, không đúng loại đất. Sau khi biết chữ “Hồ ML” là do viết thêm thì mới biết nhầm lẫn và xác diê ̣n tich 1006m2 đấ

́t của ông G được ghi trong tờ khai đăng ký quyền sử du ̣ng đất, giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất và sổ đi ̣a chinh là cùng mô ̣t loa ̣i đất, cu ̣ thể

́ là đất trồng cây hàng năm, thuô ̣c nhó m đất nông nghiê ̣p, ký hiê ̣u mu ̣c đich sứ

̉ du ̣ng khi ghi vào sổ đi ̣a chinh là ĐRM. Vi vâ ̣y, diê ̣n tich đất màu của gia đinh bà

́

̀

́

̀ T 1006m2 ĐRM không thuộc khu đất đang tranh chấp, không nằ m ở vi ̣ tri Hồ́ ML. Tuy nhiên, quá trình giải quyết đại diện UBND và đa ̣i diê ̣n theo ủy quyền của bà T cũng đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh kiện thành vụ án khác nên Tòa án không xem xét trong vu ̣ án này.

. Xét yêu cầu hủy mô ̣t phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất BA668036 do Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình cấp ngày 05/4/2010 và yêu cầu Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình trả lại hiện trạng ban đầu diê ̣n tich đất màu (đo tại thực địa là 649,9m2) đất màu do Ủ y

́ ban nhân dân huyê ̣n MC cấp tháng 11/1997 mang tên Lườ ng Quang G. Hô ̣i đồng xét xử xét phúc thẩm, thấy: Quyết định số 420/QĐ-UBND ngày 26/3/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình về việc thu hồi đất và cho Công ty TNHH một thành viên KT xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh và bán hàng truyền thống được ban hành hành theo đúng thẩm quyền, trinh tự, thủ tu ̣c và nô ̣i dung của quyết

̀

đi ̣nh là có căn cứ đúng pháp luâ ̣t nên viê ̣c Ủy ban nhân dân tỉnh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho Công ty TNHH một thành viên KT đúng trinh tự, thủ tu ̣c và thẩm quyền theo quy

̀

đi ̣nh ta ̣i Điều 37 Luâ ̣t đất đai năm 2003, sử a đổi năm 2009. Vi vâ ̣y yêu cầu này

̀ của bà T là không có cơ sở chấp nhâ ̣n.

. Tòa án cấp sơ thẩm xác định diện tích 1006m2 ĐRM không thuộc khu đất đang tranh chấp mà UBND tỉnh cho Công ty KT thuê là đúng và không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Khà Thi ̣ T là có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo không cung cấp chứng cứ mới. Vì vậy, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại phiên tòa, bác kháng cáo của bà Khà Thi ̣ T và giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2022/HC-ST ngày 11 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình.

. Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận, bà Khà Thi ̣ T phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luât.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

Không chấp nhận kháng cáo của bà Khà Thi ̣ T và giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2022/HC-ST ngày 11 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình:

Về án phí: Bà Khà Thi ̣ T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hành chính phúc thẩm, được đối trừ khoản tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai số 0000901 ngày 26/01/2022 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hòa Bình.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hành chính phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ