- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự tội Cố ý gây thương tích điểm c khoản 3 Điều 134 BLHS - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người…"
- Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNHÀ PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2022/HS-ST Ngày 30-6-2022 |
NHÀÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
Thànhà phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần M Tân
- Các Hội thẩm nhân dân:
Bà: Dư Thi Út
Bà: Khưu Liên Dung
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn M Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Bạc liêu, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Mai Chí Nguyện – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:
Đào Minh C (tên gọi khác: Trường), sinh năm 1986 tại Sóc Trăng.
Nơi cư trú: Ấp X, xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Khmer; giới tínhà: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; cha: Đào Văn B, sinh năm 1951; mẹ: Sơn Thị H, sinh 1956; vợ: Danh Thị L, sinh năm 1995; con 01 người sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không
Bị khởi tố bị can ngày 18/3/2011, bắt truy nã và tạm giữ ngày 21/12/2021, đến ngày 24/12/2021 chuyển tạm giam đến nay. (Có mặt)
- Bị hại: Anhà Nguyễn Việt T, sinh năm 1984. Nơi cư trú: Số 3, khóm S, phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 26/7/2010, trong lúc uống rượu và hát với nhau tại quán karaoke Việt Thái 1 thuộc khóm 1, phường 7, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu, Lê Hoàng H (Bé Tư), Nguyễn Thành P (P Bộ đội), Trương Thị Tú A, Đặng Khắc T1 và 03 người bạn của P (không rõ nhân thân) xảy ra cự cải với tiếp viên của quán tên Nguyễn Thi A L (Như). Lúc này, Danh Hải T2 (Lý T2) và 04 người khác đi cùng (không rõ nhân thân) đến can ngăn, thì H bị 04 người đi cùng với T2 đánh, nên giữa H và T2 hẹn nhau vào tối ngày 27/7/2010 đến khu vực cầu Bạc Liêu 3 để giải quyết.
Khoảng 9 giờ ngày 27/7/2010, Danhà Hải T2 cùng với Lý Văn T3 (Lý C1) điều khiển xe đến nhà Võ Hùng C (C râu), tại đây T2 kể cho C1 về việc mâu thuẩn và hẹn dánh nhau với nhóm của H và nhờ C1 hỗ trợ. Lúc này, C1 gọi điện thoại cho Trương Thêm L1 (Lón) và Lâm K (Lâm Chành Đa); sau đó K điện thoại cho Lưu Tài M (Thu Hà), Châu L2, Tăng N, Đào Minh C (Trường), Thạch L3, Lâm D cùng đi đến nhà C1. Tại đây, C1 giới thiệu cho nhàững người có mặt quen biết nhau thì T2 cùng T3 ra về, lúc này Lâm K lấy khẩu trang có sẵn tại nhà C1 đưa cho mọi người mang để không bị phát hiện và khi chém nhau không chém nhầm. Sau đó, C1 kêu L1 dẫn T4 (Bảy Búa), Lâm K, M, L2, N, C, L3, D đến uống nước tại quán cà phê thuộc khu dân cư phường 5 chờ sẵn, còn L1 điều khiển xe quay lại nhà C1 lấy hung khí là dao tự chế đem cất giấu tại khu vực cống trong khu dân cư phường 5 rồi điều khiển xe đến khu vực khách sạn Công tử Bạc Liêu kiểm tra thì phát hiện nhóm của H đang tập trung tại đây. L1 quay xe lại quán cà phê kêu tất cả điều khiển xe mô tô cùng đi, L1 trở T4 chạy trước, K chở M và L3, C chở N, L2 chở D chạy phía sau. Khi đến nơi cất giấu dao tự chế, L1 kêu tất cả dừng xe lại để lấy dao, K, N, L3, M, L2, D đều mang theo dao tự chế, riêng C thì không cầm hung khí, còn T4 đòi về nhà nhưng L1 không đồng ý, sau đó tất cả đi về hướng cầu Bạc Liêu 3 thuộc khóm 1, phường 3, thànhà phố Bạc Liêu để tìm nhóm của Lê Hoàng H.
Cùng thời gian với nhóm của C1 tổ chức lực lượng để đánh nhau, thì nhóm của Lê Hoàng H, Nguyễn Thàn P cũng tập trung khoảng 20 người thuê 03 xe taxi đi từ xã Hiệp Thành đến cầu Bạc Liêu 3 để đánh nhau thì bị lực lượng công an phường 3, thành phố Bạc Liêu giải tán ra về, còn lại Lê Hoàng H, Nguyễn Thành P, Nguyễn Việt T, Đặng Khắc T1 và Trương Thị Tú A. Lúc này, nhóm của L1 điều khiển xe mô tô đến, L1 chở T4, K chở M và L3, C chở N, L2 chở D, nhìn thấy Lê Hoàng H nên dừng xe. M và L3 xuống xe, dùng dao chém nhiều nhát vào người của H gây thương tích, H bỏ chạy thì M và L3 đuổi theo nhưng không kịp do H leo rào vào bên trong sân của UBND thành phố Bạc Liêu trốn, thấy vậy M, L3 quay lại lên xe cho K chở về.
Đối với Nguyễn Việt T, khi thấy Lê Hoàng H bị tấn công, T đến hỗ trợ H thì bị Tăng N do C chở bước xuống xe cầm dao xông đến chém, T chụp được dao trên tay và câu vật với N. N tiếp tục rút cây dao tự chế khác mang theo sẳn trong người, dâm 02 nhát vào người của T gây thương tích. Lúc này, lực lượng công an đến, N bỏ chạy và bị bắt ngay sau đó. Sau khi sự việc xảy ra Đào M Cbỏ trốn đến ngày 20/12/2021 thì bị bắt truy nã.
Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 178/TgT, ngày 19/10/2010 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế Bạc Liêu, kết luận thương tích đối với Lê Hoàng H như sau: Khuyết sọ đáy chắc ở vùng đỉnh đầu phải, tỷ lệ 25%; một sẹo ở sống mũi, một sẹo ớ má trái, tỷ lệ 13%; một sẹo ở vùng đỉnh đầu phải, một sẹo ở vùng vai trái, một sẹo lồi ở khuỷu tay trái, một sẹo ở lưng bên phải, một sẹo ở ngang cột sống thắc lưng, tỷ lệ 08%. Tỷ lệ phần trăm tổn hại sức khỏe tại thời điểm giám định theo phương pháp cộng lùi là 40%, vật gây thương tích do vật sắc.
Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 179/TgT, ngày 19/10/2010 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế Bạc Liêu kết luận thương tích của Nguyễn Việt T, nhàư sau: Một sẹo ở kẻ ngón 3, ngón 4 bàn tay phải, gây teo cơ liên đốt hạn chế vận động các ngón tay, tỷ lệ 16%; Một sẹo ở khoang liên sườn 5,6 đường nách sau bên phải, một sẹo ở cạnh ngoài bàn chân phải, tỷ lệ 04%. Tỷ lệ phần trăm tổn hại sức khỏe tại thời điểm giám định theo phương pháp cộng lùi là 19%, vật gây thương tích ở bàn tay phải và bàn chân phải do vật sắc gây nên, vật gây thương tích ở ngực phải khả năng do vật sắc nhọn.
Tại bản cáo trạng số 41/CT-VKSTPBL ngày 15/4/2022 của Viện kiểm sát nhàân dân thànhà phố Bạc Liêu truy tố bị cáo Đào Minh C về tội “ Cố ý gây thương tích” điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhàân dân thành phố Bạc Liêu vẫn giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Đào Minh C phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm c, khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đào Minh C từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù giam.
+ Về trách nhiệm dân sự, vật chứng và hànhà vi phạm tội của Võ Hùng C1, Tăng N, Trương Thêm L1, Châu L, Lưu Tài M, Thạch L2 đã được giải quyết tại Bản án số 08/2012/HSST, ngày 27/4/2012 của Tòa án nhân dân tỉnhà Bạc Liêu và Bản án số 782/2012/HSPT ngày 22/8/2012 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí M; còn Lâm K (Lâm Chành Đa) đã được xử lý tại Bản án số 12/2014/HSST, ngày 21/8/2014 của Tòa án nhân dân tỉnhà Bạc Liêu.
+ Về án phí: Buộc bị cáo Đào Minh C phải nộp 200.000 đồng án phí hìnhà sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo Đào Minh C: Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng một mức án nhẹ nhất để có cơ hội chăm sóc gia đình.
NHÀẬN ĐỊNHÀ CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranhà tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhàận địnhà nhàư sau:
[1] Về tố tụng: Hànhà vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết địnhà của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết địnhà tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với bị hại Nguyễn Việt T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do. Hội đồng xét xử xét thấy trong vụ án này về trách nhiệm dân sự đã được giải quyết trong các Bản án trước đây, nên việc vắng mặt của bị hại không cản trở cho việc xét xử. Do đó, căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tiến hànhà xét xử vắng mặt bị hại theo quy định pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của bị cáo Đào Minh C tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của chính bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị cáo khác, của bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra là rõ tại phiên tòa. Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận: Xuất phát từ mâu thuẩn cá nhân, nhưng muốn thể hiện uy thế nên khi nghe đàn em Danh Hải T2 và Lý Văn T3 kể lại việc mâu thuẩn và hẹn đánh nhau với Lê Hoàng H, Võ Hùng C đã chỉ đạo cho Trương Thêm L1, Lâm K, Châu L, Lưu Tài M, Tăng N, Đào Minh C, Thạch L2, Lâm D dùng hung khí để đi đánh nhau giải quyết mâu thuẩn với nhóm của Lê Hoàng H, khi đó Đào Minh C tham gia cùng nhóm chém nhau với nhóm của H, hậu quả là Lê Hoàng H bị chém gây thương tích với tỷ lệ tổn hại sức khỏe là 40% và Nguyễn Việt T bị thương tích với tỷ lệ tổn hại sức khỏe là 19%.
Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo C có đủ năng lực chịu trách nhiệm hìnhà sự, thực hiện hànhà vi phạm tội với lỗi cố ý. Từ nhàững căn cứ trên thì hànhà vi của Đào Minh C đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, quy định tại điểm c, khoản 3, Điều 134 Bộ luật Hình sự. Do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu đã truy tố bị cáo C về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ.
[3] Xét mức độ hành vi của bị cáo: Trong vụ án này, bị cáo C tuy không phải là người chủ mưu, cầm đầu, cũng không phải là người trực tiếp gây thương tích cho bị hại, nhưng bị cáo C đã tham gia tích cực ngay từ đầu, bị cáo chở Tăng N là người trực tiếp gây thương tích cho Nguyễn Việt T, nên phải chịu trách nhàiệm hình sự về hành vi của mình. Xét thấy, hành vi của bị cáo C và các bị cáo cùng tham gia trong vụ án là nguy hiểm cho xã hội, coi thường pháp luật, trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật đặc biệt quan tâm bảo vệ, mọi hànhà vi xâm hại trái pháp luật đều bị trừng trị nghiêm khắc. Đồng thời sau khi cùng đồng bọn chém người, Đào M C bỏ trốn khỏi địa phương, gây khó khăn cho quá trìnhà điều tra giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, có như vậy mới nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hànhà vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhàẹ cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về tăng nặng trách nhàiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về trách nhiệm dân sự, vật chứng và hành vi phạm tội của Võ Hùng C1, Tăng N, Trương Thêm L1, Châu L, Lưu Tài M, Thạch L2 đã được giải quyết tại Bản án số 08/2012/HSST, ngày 27/4/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu và Bản án số 782/2012/HSPT ngày 22/8/2012 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh; còn Lâm K (Lâm Chành Đa) đã được xử lý tại Bản án số 12/2014/HSST, ngày 21/8/2014 của Tòa án nhàân dân tỉnh Bạc Liêu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6] Đối với Lâm D khi thực hiện hành vi phạm tội trong thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự, Cơ quan Điều tra Công an tỉnh Bạc Liêu đã chuyển thông tin tội phạm đến Cơ quan Điều tra hình sự Quân khu 9 để xử lý theo thẩm quyền. Đối với Danh Hải T2, Lý Văn T3, Dương Tấn T4, quá trình điều tra chưa đủ căn cứ xử lý vai trò đồng phạm nên không đề cặp xử lý.
[7] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Đào Minh C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNHÀ:
1. Tuyên bố bị cáo Đào Minh C phạm tội“ Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Đào Minh C 05 (năm) năm, 06 (sáu) tháng tù giam.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 21/12/2021.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Đào Minh C phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhàận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy địnhà pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bạc Liêu; - Sở Tư pháp tỉnh Bạc Liêu; - VKSND TP. Bạc Liêu; - Nhà tạm giữ Công an TP. Bạc Liêu; - Công an TP. Bạc Liêu; - Chi cục THADS TP. Bạc Liêu; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu HS. | Trần M Tân |