- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tùng L, Cao Văn Đ, Cao Văn C - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ…"
- Căn cứ chính? Điều 1 Bộ luật Hình sự; Thông tư số 22/2019/TT-BYT quy định tỷ lệ phần trăm tổn thươ…; Điều 2 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN THÀNH TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2022/HSST Ngày: 17/8/2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN THÀNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Thu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Quế;
Ông Nguyễn Đ Dũng.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 17/8/2022 tại Tr s Toà án nh n d n huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm v án hình sự th lý số: 36/2022/HSST ngày 11/5/2022 theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 46/2022/HSST- QĐ ngày 20/6/2022 đối với:
Các bị cáo:
1. Nguyễn Tùng L, sinh năm 1995.
HKTT: Thôn Liễu K, xã Song L, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ h c v n: 9/12; D n tộc: Kinh; Giới t nh: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn L1 và bà Nguyễn Thị Hồng T; Vợ, con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành ch nh số 88/QĐ/KT ngày 25/02/2014 của Công an huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh xử phạt L về hành vi “G y rối trật tự công cộng” với mức phạt tiền 300.000 đồng. (L đã nộp phạt ngày 26/02/2014).
Bị cáo ị tạm gi , tạm giam t ngày 21/8/2021. Hiện đang ị tạm giam tại Nhà tạm gi Công an huyện Thuận Thành. (Có m t tại phiên tòa).
2. Cao Văn Đ, sinh năm 2000.
HKTT: Thôn Liễu K, xã Song L, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ h c v n: 7/12; D n tộc: Kinh; Giới t nh: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Cao Văn Đ1 và bà Cao Thị B ch N; Vợ, con: chưa có.
Tiền sự: Không
Tiền án: Tại ản án số 60/2019/HSST ngày 07/11/2019 của TAND huyện Thuận Thành xử phạt Đ 06 tháng tù về tội “Bắt gi người trái pháp luật” quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật hình sự. Ra trại ngày 23/6/2020. Hiện chưa được xóa án tích.
Bị cáo ị tạm giam t ngày 31/8/2021. Hiện đang ị tạm giam tại Nhà tạm gi Công an huyện Thuận Thành. (Có m t tại phiên tòa).
3. Cao Văn C, sinh năm 1999.
HKTT: Thôn Liễu K, xã Song L, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ h c v n: 12/12; D n tộc: Kinh; Giới t nh: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Cao Văn C1 và à Đỗ Thị L1; Vợ, con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo tại ngoại. (Có m t tại phiên tòa).
Bị hại: Anh Trần Đình T, sinh năm 1990. HKTT: Thôn Mãn Xá T, xã Hà M, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Hiện đang ch p hành án trong một v án khác tại Trại tạm Ng c Lý. (Có m t).
Người làm chứng: Anh Biện Xu n Q, sinh năm 1987. Địa chỉ: Thôn Công H, xã Hà M, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. (Vắng m t).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1970.
- Ông Cao Văn Đ1, sinh năm 1977; Bà Cao Thị B ch N, sinh năm 1978.
- Ông Cao Văn C1, sinh năm 1977.
T t cả các đương sự đều trú tại: Thôn Mãn Xá T, xã Hà M, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
- Bà Nguyễn Thị H sinh năm 1967. HKTT: Thôn Mãn Xá Tây, xã Hà Mãn, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
(T t cả các đương sự đều m t)
NỘI DUNG CỦA V ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn iến tại phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:
Ngày 07/8/2021, Nguyễn Tùng L đến nhà Trần Đình T, sinh năm 1990, trú tại thôn Mãn Xá T, xã Hà M, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh để g p T. Do T không có nhà nên L đã hỏi à Nguyễn Thị H, sinh năm 1967 (là mẹ đẻ T) để xin số điện thoại của T rồi ra về.
Khoảng 4 giờ ngày 08/08/2021, T sử d ng điện thoại di động nhãn hiệu Iphon7 plus, màu đen, ên trong lắp sim số 0862385897 của T truy cập vào tài khoản Face ook “Trần Đình T” nhắn tin, g i điện đến tài khoản Face ook “Nguyên L” của L để hẹn L đến cầu Đồng Ngư thuộc xã Ngũ Thái, huyện Thuận Thành để đánh nhau. L đồng ý. Sau đó, L sử d ng điện thoại di động Iphone6 g i đến tài khoản Face ook “Cao C” để rủ Cao Văn C để đi “nói chuyện” với người hẹn L. C đồng ý. L tiếp t c g i điện đến tài khoản Face ook “Văn Đ” của Cao Văn Đ để rủ Đ cùng đi đánh nhau nhưng Đ không nghe máy. Sau đó, L l y tại nhà L 01 con dao phóng lợn (loại dao gồm 01 tuýp sắt đường k nh khoảng 02cm, dài khoảng 80cm 01 đầu có gắn dao nh n dài khoảng 20cm) rồi điều khiển xe môtô Honda, loại xe Air lade, màu đen, không có iển kiểm soát (xe L mượn của C t 02 ngày trước) đến đón C. Tại cổng nhà C khi g p L, C nhìn th y L mang theo dao phóng lợn có đ c điển như trên. Lúc này, L ảo C điều khiển xe môtô trên ch L đến nhà Đ để đón Đ cùng đi. C đồng ý C điều khiển xe còn L ngồi ph a sau tay phải cầm dao phóng lợn. Khi đến cách cổng nhà Đ khoảng 02 m. L đ t dao phóng lợn xuống lòng đường cạnh xe C đang đỗ. L đi ộ và nhà Đ g p Đ thì L ảo Đ mang theo 01 dao đi để “nói chuyện” với người hẹn L. Đ đồng ý. L quay lại chỗ C đang đỗ xe tay phải cầm dao phóng lợn ngồi lên xe chờ Đ. Khoảng 02 phút sau, Đ đi ra tay phải cầm theo 01 con dao tự chế dài khoảng 50cm, (loại 01 lưỡi sắc, đầu dao nh n, phần chuôi dao ằng gỗ, phần lưỡi dao ằng kim loại màu sáng dài khoảng 30cm, chỗ rộng nh t khoảng 04cm) rồi ngồi lên vị tr sau cùng của xe môtô. L tiếp t c ảo C điều khiển xe ch L và Đ mang theo hung kh trên đi theo tỉnh lộ 283 hướng t xã Song Liễu, huyện Thuận Thành đến thôn Đồng Ngư, xã Ngũ Thái, huyện Thuận Thành. Trên đường đi, Đ hỏi L “mang dao đi làm gì” thì L trả lời “Để đánh nhau với T thôn Mãn Xá T y, xã Hà Mãn, T hẹn ra cầu Đồng Ngư”. Đ đồng ý. Đến khoảng hơn 5 giờ, nhóm của L đi qua cầu Đồng Ngư được khoảng 50m thì L phát hiện th y T điều khiển xe môtô đi ngược chiều vượt qua L. T g i L. L ảo C điều khiển xe quay lại thì T cũng quay xe lại và d ng đỗ rìa đường ên phải theo chiều đi của mỗi ên (xe T do T điều khiển ch sau là Biện Hoàng Q, sinh năm 1987, trú tại thôn Công Hà, xã Hà Mãn, huyện Thuận Thành - là ạn T). T xuống dựng xe rồi đi ộ lại gần nhóm của L, còn Q vẫn ngồi tại phần yên ph a sau xe của T. Lúc này, T vung gậy rút (dạng gậy 03 khúc ằng kim loại theo lời trình ày của nhóm L) v t về ph a L nhưng không trúng L (Còn T thì không th a nhận cầm gậy rút 03 khúc v t L). Th y vậy, L, Đ và C nhảy ra cạnh xe. Lúc này, L cầm dao phóng lợn ằng hai tay, tay phải ph a trên, tay trái ph a dưới đứng đối diện T (cách khoảng 70cm ) nhằm về ph a T chém 01 nhát theo hướng t trên xuống dưới, t phải sang trái (Lúc này T đang đội mũ lưỡi trai, ằng vải, tối màu). T giơ tay phải lên ngang vùng trán để đỡ thì phần lưỡi dao trúng vào m t ngoài cẳng tay phải của T (khoảng cách t tay của T đến vùng trán của T là 55cm). Do C không mang theo đồ vật gì và sợ ị T đánh nên C đi ộ quay lại hướng sau cách xe C đang đỗ khoảng 03m) rồi d ng lại. Bị L chém, T lùi lại ph a sau. Ngay lúc này, Đ cầm dao tự chế mang theo chạy sang rìa đường ên trái theo chiều đỗ xe của nhóm L (đầu xe quay hướng xã Song Liễu) m c đ ch để ch n không cho T ỏ chạy. Lúc này, L tiếp t c chém nhát thứ hai cũng tương tự như nhát thứ nh t thì T tiếp t c giơ tay phải lên ngang vùng trán của T để đỡ thì phần lưỡi dao trúng vào cẳng tay phải của T. Khi th y T chạy về ph a Đ thì Đ giơ dao lên . Th y vậy, T v a quay người lại v a ngoảnh m t sang ên trái nhìn về Đ thì ị Đ chém 01 nhát với về ph a T trúng vào vùng đầu ên trái của T (Theo lời trình ày của T còn Đ không th a nhận chém T). Đ tiếp t c đuổi theo T khoảng 2m thì d ng lại không đuổi n a (việc xô xát gi a nhóm của L với T diễn ra khoảng t 02 phút đến 03 phút và tại thời điểm này trên đường ngoài nhóm của L và T không có ai tham gia giao thông và các hộ d n ên đường cũng không có ai iết). Q xuống xe can ngăn thì L không đuổi theo chém T n a mà đứng nói chuyện với Q. Sau đó, L ảo C điều khiển xe ch L và Đ đi về nhà. Trên đường về đến đoạn cầu thôn Đồng Ngư, Đ vứt con dao tự chế xuống rìa đường tỉnh lộ 283, giáp sông Bắc Hưng Hải (vị tr nào không nhớ) và đến đoạn ãi cát khu vực cuối thôn Đồng Ngư, xã Ngũ Thái, L vứt dao phóng lợn xuống rìa đường giáp sông Bắc Hưng Hải (vị tr nào không nhớ) rồi cả a đi sáng rồi về nhà. Còn Q đưa T đi c p cứu và điều trị tại Trung t m y tế huyện Thuận Thành, sau đó chuyển tiếp đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh điều trị đến ngày 13/8/2021 thì ra viện.
Ngày 18/8/2021, Trần Đình T có đơn trình áo đến cơ quan Công an đề nghị giải quyết việc ị L chém g y thương t ch ngày 08/8/2021.
Ngày 21/8/2021, L đã đến Cơ quan điều tra đầu thú và khai nhận toàn ộ hành vi phạm tội của mình.
Ngày 21/8/2021, Cơ quan điều tra đã ra Lệnh khám xét khẩn c p chỗ của L tại thôn Liễu Khê, xã Song Liễu, huyện Thuận Thành. Quá trình khám xét không thu gi được công c gì liên quan đến hành vi phạm tội của L.
Ngày 25/8/2021, Cơ quan điều tra đã tiến hành thực nghiệm điều tra đối với Trần Đình T, Nguyễn Tùng L, Cao Văn Đ và Cao Văn C. Kết quả thực nghiệm diễn iến hành vi phù hợp với lời khai của L, Đ và C và T về việc L, Đ đã trực tiếp g y thương t ch cho T.
Tại tóm tắt hồ sơ ệnh án số 198/KH ngày 26/8/2021 của Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh thể hiện: Trần Đình T vào viện ngày 08/8/2021 với các vết thương: 01 vết thương vùng thái dương đỉnh trái k ch thước (05x05)cm, s u 01cm, sắc g n; 01 vết rách da cẳng tay phải k ch thước (01x01)cm, nham nh ; 01 vết thương 1/3 dưới ờ tr cẳng tay phải k ch thước (10x05)cm, sắc g n, lóc da, gãy h xương tr phải, đứt g n cơ g p cổ tay tr phải, g n cơ duỗi cổ tay tr phải, đứt ó mạch thần kinh tr phải, đứt g n g p nông các ngón 3,4,5 tay phải.
Ngày 26/8/2021, Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định số 153 trưng cầu Trung t m pháp y thuộc S y tế tỉnh Bắc Ninh giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể và cơ chế hình thành vết thương đối với T.
Tại ản kết luận giám định pháp y về thương t ch số 125/TGT ngày 30/8/2021, của Trung t m pháp y thuộc S y tế tỉnh Bắc Ninh kết luận:
1. D u hiệu ch nh qua giám định:
- Thương t ch vùng thái dương đỉnh trái, hướng chếch dưới ngoài, đầu dưới vết thương cách đỉnh tai trái 09cm, k ch thước (5x 0,2)cm, ờ mép g n, sẹo màu hồng nhạt, liền sẹo tốt. Áp d ng chương 8 tỷ lệ % tổn thương cơ thể do tổn thương phần mềm. M c I.2. sẹo trung ình = 2%.
- Thương t ch 1/3 dưới trước cẳng tay phải, cách nếp g p cổ tay 06cm, k ch thước (5x0,2)cm, còn kh u 04 mũi chỉ, ờ mép g n, đã đóng vẩy tiết, đang liền sẹo. Áp d ng chương 8 tỷ lệ % tổn thương cơ thể do tổn thương phần mềm. M c I.2. sẹo trung ình = 2%.
- Thương t ch hình ch V, 1/3 dưới trong sau cẳng tay phải, đỉnh vết thương tại mỏm tr m tr , k ch thước (14,5x0,2)cm, còn kh u 14 mũi chỉ, ờ mép g n, đã đóng vẩy tiết, đang liền sẹo. Áp d ng chương 8 tỷ lệ % tổn thương cơ thể do tổn thương phần mềm. M c I.3. sẹo lớn = 3%.
- Gãy 1/3 dưới xương tr phải, đã phẫu thuật kêt hợp xương. Áp d ng chương 7 tỷ lệ % tổn thương cơ thể do tổn thương cơ - xương - khớp. M c IV.10.1 sẹo lớn = 8%.
- Tổn thương hoàn toàn thần kinh tr ên phải đoạn cẳng tay. Áp d ng chương 1 tỷ lệ % tổn thương cơ thể do tổn thương xương s và hệ thần kinh. M c VII.3.19 sẹo lớn = 31%.
Vận động cổ, àn tay phải ngón IV, V hạn chế, động mạch tr phải đoạn cổ tay giảm tốc độ dòng chảy. Không đủ căn cứ tỉnh tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.
2. Căn cứ thông tư số: 22/2019/TT-BYT ký ngày 28 tháng 8 năm 2019 quy định phần trăm tổn thương cơ thể sử d ng trong pháp y.
Theo nguyên tắc cộng tại thông tư 22/2019/TT-BYT tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương t ch g y nên hiện tại là: 40,86% (Bốn mươi phẩy tám mươi sáu phần trăm). Làm tròn 41% (Bốn mươi mốt phần trăm) .
Do lời khai gi a các đối tượng và ị hại còn có m u thuẫn nên Cơ quan điều tra đã tiến hành đối ch t để làm rõ nh ng nội dung sau:
Ngày 09/3/2022, đối ch t gi a Nguyễn Tùng L với Cao Văn C để làm sáng tỏ nội dung có hay không có việc C hỏi L “mang dao đi để làm gì”. Kết quả đối ch t, Nguyễn Tùng L và Cao Văn C không thay đổi gì về lời khai khi làm việc với Cơ quan điều tra.
Ngày 14/4/2022, đối ch t gi a Nguyễn Tùng L, Cao Văn Đ, Cao Văn C và Trần Đình T để làm sáng tỏ nội dung có hay không có việc T sử d ng 01 gậy rút 03 khúc ằng kim loại để v t L. Đối ch t gi a Đ và T để làm rõ có hay không có việc Đ dùng dao tự chế g y thương t ch vùng đầu của T. Kết quả đối ch t, Nguyễn Tùng L, Cao Văn Đ, Cao Văn C và Trần Đình T không thay đổi gì về lời khai khi làm việc với Cơ quan điều tra.
Với nội dung trên, tại ản Cáo trạng số: 40/CT - VKSTT ngày 09/5/2022 của Viện kiểm sát nh n d n huyện Thuận Thành truy tố Nguyễn Tùng L, Cao Văn Đ, Cao Văn C về tội “Cố ý g y thương t ch” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay:
Các ị cáo đã khai nhận toàn ộ hành vi phạm tội của mình như ản cáo trạng đã nêu là đúng.
Các ị cáo và gia đình các ị cáo tự nguyện ồi thường cho ị hại là anh Trần Đình T tổng số tiền 75 triệu đồng ao gồm tiền chi ph điều trị thương t ch, tiền m t thu nhập trong thời gian ị hại điều trị thương t ch, tiền m t thu nhập của người chăm sóc, tiền chi ph đi lại, tiền ồi dưỡng, ph c hồi sức khỏe, tiền chi ph mổ tháo đinh sau này.
Bị hại là anh Trần Đình T nh t tr với mức ồi thường này, không yêu cầu các ị cáo phải ồi thường t kỳ một khoản tiền nào khác và đề nghị HĐXX xem xét cho các ị cáo được hư ng mức án nhẹ nh t. Đồng thời anh T đề nghị HĐXX giao cho mẹ đẻ anh là à Nguyễn Thị H được thay anh nhận số tiền ồi thường và số tài sản mà Cơ quan điều tra đã tạm gi của anh.
Đại diện Viện kiểm sát nh n d n huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh duy trì công tố tại phiên toà hôm nay sau khi ph n t ch đánh giá t nh ch t của v án, các chứng cứ, tình tiết tăng n ng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nh n th n của ị cáo đề nghị Hội đồng xét xử gi nguyên tội danh như Cáo trạng đã truy tố.
Áp d ng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Nguyễn Tùng L t 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù.
Áp d ng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm , s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Bộ luật hình sự xử phạt: Cao Văn Đ t 05 năm 3 tháng đến 05 năm 6 tháng tù.
Áp d ng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm , s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt: Cao Văn C 36 tháng tù nhưng cho hư ng án treo, thời gian thử thách 60 tháng t nh t ngày tuyên án sơ thẩm.
Về trách nhiệm d n sự: Áp d ng Điều 584, 585, 587, 590 Bộ luật d n sự: Điều 48 Bộ luật hình sự: Buộc các ị cáo phải ồi thường theo thỏa thuận cho anh Trần Đình T tổng số tiền là 75 triệu đồng. (Xác nhận anh T đã nhận 10 triệu )
Đại diện Viện kiểm sát cũng đề nghị áp d ng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố t ng Hình sự để tịch thu sung công cũng như trả lại tài sản cho các ị cáo, ị hại theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các ị cáo mức th p nh t.
Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan không có ý kiến gì tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về v n đề có liên quan.
HỘI Đ NG XÉT X NHẬN Đ NH
Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Lời khai nhận tội của các ị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của người ị hại, người làm chứng, phù hợp với thương t ch để lại trên cơ thể người ị hại, ản kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ có đủ cơ s để khẳng định:
Do có m u thuẫn cá nh n t trước nên khoảng 4 giờ 30 phút ngày 08/8/2021, Trần Đình T đã sử d ng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone7 plus, màu đen, ên trong lắp sim số 0862385897 truy cập tài khoản Face ook “Trần Đình T” nhắn tin, g i điện đến tài khoản Face ook “Nguyên L” của Nguyễn Tùng L hẹn L đến cầu Đồng Ngư thuộc xã Ngũ Thái, huyện Thuận Thành để đánh nhau. Nhận được tin nhắn của T, Nguyễn Tùng L đã dùng điện thoại di động Iphone 6, màu xám ên trong không lắp sim truy cập vào tài khoản Face ook “Nguyên L” của L g i vào tài khoản Face ook của “Cao C” của Cao Văn C và tài khoản Facebook “Văn Đ” của Cao Văn Đ để rủ C và Đ đi g p T để đánh nhau. Sau đó, C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Air lade, màu đen, số khung 604191, số máy 0231231 ch L và Đ mang theo 01 con dao phóng lợn (loại dao gồm 01 tuýp sắt đường k nh khoảng 02cm, dài khoảng 80cm 01 đầu có gắn dao nh n dài khoảng 20cm) và 01 con dao tự chế dài khoảng 50cm, (loại 01 lưỡi sắc, đầu dao nh n, phần chuôi dao ằng gỗ, phần lưỡi dao ằng kim loại màu sáng dài khoảng 30cm, chỗ rộng nh t khoảng 04cm). Đến khoảng hơn 5 giờ cùng ngày thì nhóm của L g p T trên đường tỉnh lộ 283, đoạn thuộc thôn Đồng Ngư, xã Ngũ Thái, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Tại đ y, T đã dùng 01 gậy 03 khúc ằng kim loại v t 01 phát về ph a của L nhưng không trúng. Còn L đã sử d ng 01 dao phóng lợn mang theo chém 02 nhát theo hướng t trên xuống dưới, t phải sang trái đều trúng vào m t ngoài cẳng tay phải của T. Còn Đ cầm dao tự chế mang theo chạy sang rìa đường ên trái theo chiều đỗ xe của nhóm L để ch n không cho T ỏ chạy. Hành vi của L, Đ và C đã g y cho T ị tổn thương t ch, tổn hại 41% sức khỏe.
Do vậy hành vi của các ị cáo đã phạm tội Cố ý g y thương t ch quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự. Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nh n d n huyện Thuận Thành truy tố ị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội ị cáo là nguy hiểm cho xã hội, g y m t trật tự trị an địa phương, đã x m phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật ảo vệ. Hành vi phạm tội của các ị cáo còn làm ảnh hư ng nghiêm tr ng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương do vậy cần có hình phạt nghiêm khắc đối với ị cáo để giáo d c riêng và phòng ng a chung.
[2] Xét về t nh ch t của v án và vai trò của t ng ị cáo trong v án thì th y:
Đ y là v án đồng phạm nhưng mang t nh ch t giản đơn, các ị cáo không có sự c u kết ch t chẽ, phân công vai trò, nhiệm v c thể nên không có yếu tố tổ chức. Xu t phát t m u thuẫn cá nh n gi a L và T nên L đã rủ Đ, C cùng đi g p T để đánh nhau. L và Đ cũng là người trực tiếp cầm hung kh và g y thương t ch cho T do vậy xác định L có vai trò cao nh t, tiếp đó là ị cáo Đ. Đối với C, m c dù không trực tiếp g y thương t ch cho T nhưng ản th n ị cáo là người điều khiển xe môtô ch L và C cầm theo hung kh đi đến g p T để đánh nhau, sau khi kết thúc lại ch về. Vì vậy cần căn cứ vào t nh ch t, mức độ, vai trò cũng như nh n th n của t ng ị cáo để uộc các ị cáo phải chịu trách nhiệm tương xứng với hành vi phạm tội của mình.
[3] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng n ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các ị cáo thì th y:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Nguyễn Tùng L không có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên ngày 25/02/2014 ị cáo ị Công an huyện Thuận Thành xử phạt về hành vi “G y rối trật tự công cộng” nên có nh n th n x u.
Bị cáo Cao Văn Đ có 01 tiền án: Ngày 07/11/2019 ị TAND huyện Thuận Thành xử phạt 06 tháng tù về tội “Bắt gi người trái pháp luật” Ra trại ngày 23/6/2020. Đến nay chưa được xóa án t ch nên ị cáo phải chịu tình tiết tăng n ng tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Cao Văn C có nh n th n tốt, không có tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: T t cả các ị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay đều có thái độ thành khẩn khai áo, tự nguyện ồi thường hậu quả cho ị hại và ị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các ị cáo. Ngoài ra ị cáo L và C sau khi phạm tội đã đến cơ quan điều tra đầu thú do vậy t t cả các ị cáo được hư ng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm , s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
T sự ph n t ch trên đ y, Hội đồng xét xử xét th y cần phải cách ly ị cáo L, Đ ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nh t định đủ để giáo d c, cải tạo ị cáo. Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho ị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Đối với ị cáo C là đồng phạm giúp sức trong v án nhưng có vai trò th p nh t trong v án. Bị cáo được hư ng 04 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (02 tình tiết quy định tại khoản 1; 02 tình tiết quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS), ị cáo không có tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự; phạm tội lần đầu và chưa có tiền án tiền sự. Do vậy HĐXX xét th y cần áp d ng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt ị cáo mức hình phạt dưới mức th p nh t của khung hình phạt và không cần thiết phải cách ly ị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho ị cáo giáo d c cải tạo tại địa phương cũng đủ cải tạo, giáo d c ị cáo.
[4] Về trách nhiệm d n sự:
Tại phiên tòa các ị cáo và gia đình các ị cáo tự nguyện ồi thường cho ị hại là anh Trần Đình T tổng số tiền 75 triệu đồng ao gồm tiền chi ph điều trị thương t ch, tiền m t thu nhập trong thời gian ị hại điều trị thương t ch, tiền m t thu nhập của người chăm sóc, tiền chi ph đi lại, tiền ồi dưỡng, ph c hồi sức khỏe, tiền chi ph mổ tháo đinh sau này.
Bị hại là anh Trần Đình T nh t tr với mức ồi thường này, không yêu cầu các ị cáo phải ồi thường t kỳ một khoản tiền nào khác. Đồng thời anh T đề nghị Hội đồng xét xử giao cho mẹ đẻ anh là à Nguyễn Thị H được thay anh nhận số tiền ồi thường và chiếc mũ, chiếc điện thoại mà Cơ quan điều tra đã tạm gi của anh.
Hội đồng xét xử xét th y việc thỏa thuận của các ên là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật nên cần ch p nhận và giao cho bà Nguyễn Thị H (là mẹ đẻ của anh T) nhận số tiền ồi thường thay cho anh T.
Xác nhận các ị cáo đã ồi thường cho anh T 10 triệu đồng (anh T đã nhận đủ số tiền này) tại Cơ quan điều tra.
Xác nhận ông Nguyễn Văn L1 (là ố đẻ ị cáo L) đã tự nguyện nộp số tổng số tiền 20.200.000 đồng ngày 18/7/2022; Ông Cao Văn C1 (là ố đẻ ị cáo C) đã tự nguyện nộp tổng số tiền 15.200.000 đồng; Ông Cao Văn Đ1 và bà Cao Thị B ch N (là ố mẹ đẻ ị cáo Đ) đã tự nguyện nộp tổng số tiền 15.200.000 đồng tại Chi c c thi hành án d n sự huyện Thuận Thành để ồi thường cho anh Trần Đình T.
[5] Liên quan trong v án này còn có Biện Hoàng Q, sinh năm 1987, trú tại thôn Công Hà, xã Hà Mãn, huyện Thuận Thành là người có m t tại địa điểm nhóm của L đánh nhau với T nhưng Q không tham gia và đã can ngăn nhóm của L. Vì vậy, Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý đối với Q là phù hợp.
Đối với ông Nguyễn Văn L1 (là ố đẻ của L), ông Cao Văn C1 (là ố đẻ của C), ông Cao Văn Đ1 và bà Cao Thị B ch N, (là ố mẹ đẻ của Đ) là người nộp số tiền tại Chi c c thi hành án d n sự huyện Thuận Thành để ồi thường cho anh T thay cho các ị cáo. Tuy nhiên ông L1, ông C1, bà N, ông Đ1 không có đề nghị gì đối với các ị cáo. Do vậy HĐXX không đ t ra xem xét, giải quyết.
[6] Về vật chứng:
Đối với chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại xe Air lade, màu đen, số khung 604191, số máy 0231231, chưa có iểm kiểm soát (là xe C mượn của ố đẻ là ông Cao Văn C1. Quá trình điều tra xác định ông C1 không iết việc C mang xe cho L mượn và không iết việc C sử d ng chiếc xe ch L và Đ đi thực hiện hành vi phạm tội vì vậy Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông C1 là phù hợp.
Đối với con dao mà L, Đ sử d ng g y thương t ch cho T và 02 chiếc điện thoại di dộng của Đ và C dùng để liên lạc với L nhưng sau đó Đ và C đã làm rơi m t vị tr nào không nhớ. Vì vậy, Cơ quan điều tra không thu hồi được nên không có căn cứ để xử lý là phù hợp.
Đối 01 điện thoại di động Iphon6, màu xám (đã sử d ng) của L. L th a nhận sử d ng g i T để đánh nhau nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphon7 plus, màu đen và 01 chiếc mũ lưỡi chai ằng vải mà Cơ quan điều tra thu gi của T. Xét th y không liên quan đến hành vi của phạm tội của các ị cáo nên cần trả lại cho anh T.
[5] Về án ph : Bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm và d n sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT Đ NH
Tuyên ố các ị cáo Nguyễn Tùng L, Cao Văn Đ, Cao Văn C phạm tội “Cố ý g y thương t ch”.
Áp dụng điểm c khoản Điều 1 ; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 1; Điều 8 Bộ luật hình sự. Điều 29 Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Tùng L 05 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù t nh t ngày 21/8/2021. Tiếp t c tạm giam ị cáo 45 ngày kể t ngày tuyên án để đảm ảo thi hành án.
Áp dụng điểm c khoản Điều 1 ; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 1; Điểm h khoản 1 Điều 2; Điều 8 Bộ luật hình sự. Điều 29 Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt: Cao Văn Đ 05 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù t nh t ngày 31/8/2021. Tiếp t c tạm giam ị cáo 45 ngày kể t ngày tuyên án để đảm ảo thi hành án.
Áp dụng điểm c khoản Điều 1 ; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 1; Điều ; Điều 6 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Cao Văn C 36 tháng tù nhưng cho hư ng án treo, thời gian thử thách 60 tháng t nh t ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho UBND xã Song Liễu, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo d c trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hư ng án treo cố ý vi phạm nghĩa v 02 lần tr lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hư ng án treo phải ch p hành hình phạt tù của bản án đã cho hư ng án treo.
Về trách nhiệm dân sự: Áp d ng Điều 584, 585, 587, 590 Bộ luật d n sự: Điều 48 Bộ luật hình sự:
Buộc các ị cáo phải liên đới ồi thường theo thỏa thuận cho anh Trần Đình T tổng số tiền 75.000.000 đồng (Bảy mươi lăm triệu đồng).
Xác nhận các ị cáo đã ồi thường cho anh Trần Đình T số tiền 10.000.000 đồng tại Cơ quan điều tra. (Anh T đã nhận đủ số tiền này).
Xác nhận ông Nguyễn Văn L1 (là ố đẻ ị cáo Nguyễn Tùng L) đã tự nguyện nộp số tiền 10.200.000 đồng ngày 18/7/2022 và 10.000.000 đồng ngày 25/7/2022; Bà Cao Thị B ch N (là mẹ đẻ ị cáo Cao Văn Đ) đã tự nguyện nộp số tiền 10.200.000 đồng ngày 18/7/2022, ông Cao Văn Đ1 (là ố đẻ ị cáo Cao Văn Đ) đã tự nguyện nộp số tiền 5.000.000 đồng ngày 25/7/2022; Ông Cao Văn C1 (là ố đẻ ị cáo Cao Văn C) đã tự nguyện nộp số tiền 10.200.000 đồng ngày 18/7/2022 và 5.000.000 đồng ngày 25/7/2022 tại Chi c c thi hành án d n sự huyện Thuận Thành để ồi thường cho anh Trần Đình T.
Các ị cáo Nguyễn Tùng L, Cao Văn Đ, Cao Văn C phải tiếp t c ồi thường cho anh Trần Đình T số tiền còn lại là 14.400.000 đồng. (C thể: Mỗi ị cáo phải ồi thường cho anh Trần Đình T số tiền 4.800.000 đồng).
Kể t ngày ản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi su t theo quy định tại Điều 468 Bộ luật d n sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Trường hợp ản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án d n sự thì người được thi hành án d n sự, người phải thi hành án d n sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án ho c ị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án d n sự, thời hiệu thi hành án d n sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án d n sự.
Về vật chứng: Áp d ng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự:
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphon6, màu xám (đã sử d ng), ị nứt vỡ phần k nh màn hình nhưng tạm gi để đảm ảo thi hành án.
Trả lại anh Trần Đình T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphon7 plus, màu đen (đã qua sử d ng); 01 chiếc mũ vải, màu đen, có ký hiệu “NONSON” đã qua sử d ng; tại vị trí cách viền mũ ên trái 04 cm có vết xước vải trên diện (0,5 x 01cm), điểm th p nh t của vết xước cách lỗ thông kh ên trái của mũ là 02cm.
(Theo Biên ản àn giao tài sản, vật chứng ngày 18/7/2022 gi a Cơ quan
CSĐT Công an huyện Thuận thành và Chi c c thi hành án d n sự huyện Thuận Thành).
Giao cho bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1967. HKTT: Thôn Mãn Xá Tây, xã Hà Mãn, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh (là mẹ đẻ của anh Trần Đình T) được nhận số tiền do các ị cáo ồi thường cho T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphon7 plus, màu đen (đã qua sử d ng); 01 chiếc mũ vải, màu đen có ký hiệu “NONSON” (đã qua sử d ng) tại Chi c c Thi hành án d n sự huyện Thuận Thành.
Về án phí: Áp d ng điều 136 Bộ luật tố t ng Hình sự; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH:
Mỗi ị cáo phải chịu 200.000 đồng án ph hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án ph d n sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Áp d ng Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố t ng Hình sự;
Bị cáo có quyền kháng cáo ản án trong hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án.
Đương sự có m t có quyền kháng cáo ản án trong hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND huyện Thuận Thành; - Công an huyện Thuận Thành; - Nh ng người tham gia tố t ng; - THADS huyện Thuận Thành; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI Đ NG XÉT X TH M PHÁN – CHỦ T A PHI N T A (Đã ký) Nguyễn Thị Minh Thu |