vanban.org

Bản án 61/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang Tuyên án 26/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

TuY bố bị cáo Nguyễn Bình Y phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt: Nguyễn Bình Y: 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị tạm Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Bình Yên - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? TuY bố bị cáo Nguyễn Bình Y phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUY

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 61/2022/HS-ST
Ngày 26/7/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUY, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lại Hiệp Phong.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Sơn;

Ông Trần Ngọc Toàn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Kiệt - Thư ký Tòa án nhân thành phố

Long XuY, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long XuY, tỉnh An Giang

tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đức Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long XuY

xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 46/2022/TLST-HS ngày 29 tháng

6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2022/QĐXXST-HS ngày 01

tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Bình Y, sinh năm 1996, tại huyện Phú Tân, tỉnh An Giang; nơi

đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp Long H 2, xã Long H, huyện Phú Tân, tỉnh An

Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh;

giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và

bà Lê Thị Ngọc H (đã chết); chưa có vợ, con;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị tạm giam từ ngày 11/4/2022 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành

phố Long XuY; có mặt.

Bị hại:

- Ông Nguyễn Hoàng H, sinh năm 1998; nơi cư trú: số 18/4, đường Trần

Hưng Đạo, phường Mỹ X, thành phố Long XuY, tỉnh An Giang; vắng mặt.

- Bà Phạm Thị Kiều L, sinh năm 2000; nơi cư trú: số 50, tổ 02, ấp Long T,

xã Ô Long V, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang; vắng mặt.

- Bà Võ Thị Lan P, sinh năm 2002; nơi cư trú: ấp Thạnh L, xã Thanh T,

huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ; vắng mặt.

- Bà Nguyễn Thị Quỳnh N, sinh năm 1999; nơi cư trú: số 622/128/21, khóm

Bình Đ 2, phường Bình Đ, thành phố Long XuY, tỉnh An Giang; vắng mặt.

- Công ty cổ phần dịch vụ bất động sản Nam Miền T (sau đây được viết tắt

là Công ty Nam Miền T); địa chỉ: số 316, đường Lý Thái Tổ, tổ 60, khóm Đông A 5, phường Mỹ X, thành phố Long XuY, tỉnh An Giang.

Người đại diện hợp pháp của bị hại Công ty Nam Miền T: Ông Nguyễn

Văn N, sinh năm 1997; nơi cư trú: số 63/19A, khóm Mỹ P, phường Mỹ Q, thành phố Long XuY, tỉnh An Giang; là người đại diện theo uỷ quyền của Công ty Nam Miền T (theo giấy uỷ quyền số 06/2022/QU-DXMT-NMT/P.HCNS ngày 01/6/2022 của Tổng Giám đốc Công ty Nam Miền T); vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Ông Âu Minh H, sinh năm 1987; nơi cư trú: số 62/4, đường Thoại Ngọc

Hầu, K 4, phường Mỹ L, thành phố Long XuY, tỉnh An Giang; có mặt.

- Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1969; nơi cư trú: số 672A, ấp Long H 2,

xã Long H, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang; vắng mặt.

- Bà Nguyễn Thị Cát P, sinh năm 1995; nơi cư trú: số 234D/13, khóm Bình

Đ 5, phường Bình Đ, thành phố Long XuY, tỉnh An Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Bình Y là nhân viên của Công ty cổ phần dịch vụ bất động sản

Nam Miền Tây (sau đây được viết tắt là Công ty) thuộc số 316, đường Lý Thái Tổ, tổ 60, khóm Đông A 5, phường Mỹ X, thành phố Long XuY. Do cần tiền trả nợ nên Y nảy sinh ý định lấy trộm tài sản của các nhân viên trong Công ty. Để thực hiện ý định, khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 09/4/2022, thấy Phòng Sàn kinh doanh 1, ở tầng 1 của Công ty không khoá cửa và không còn nhân viên làm việc nên Y vào phòng lấy trộm 01 con heo đất màu vàng là tài sản của Công ty và 01 cây kéo màu đỏ trong phòng đem lên sân thượng. Tại đây, Y dùng kéo cạy làm vỡ khe để tiền của con heo đất lấy 1.720.000 đồng nhưng có 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng bị rách nên Y bỏ lại chỉ lấy 1.710.000 đồng rồi dùng keo dán lại khe heo đất. Sau đó, Y quay trở lại Phòng Sàn kinh doanh 1 đặt heo đất lại vị trí đã lấy rồi tiếp tục lấy trộm 01 máy tính xách tay nhãn hiệu HP Davilion 15EG0009TLL của Võ Thị Lan P, 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Asus A510UEJ1123T của Phạm Thị Kiều L, 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Vostro 15-5568 của Nguyễn Thị Quỳnh N, 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Inspirion 5468K5CDP11 của Nguyễn Hoàng H để trên bàn làm việc. Sau đó, Y để các máy tính xách tay này vào balo đem về nhà trọ Thiên Kim thuộc phường Bình Đức, thành phố Long XuY, nơi Y thuê trọ cất giấu. Đến khoảng 10 giờ 00 phút ngày 10/4/2022, Y đem 02 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell đến cửa hàng điện thoại D8 Long XuY 2 thuộc phường Mỹ Long, thành phố Long XuY bán cho Âu Minh H giá 10.000.000 đồng nhưng không cho Hạnh biết các tài sản này

do lấy trộm mà có. Y dùng số tiền này để trả nợ cho 02 thanh niên không rõ nhân

thân và đến cửa hàng Viettel Store thuộc phường Bình Khánh, thành phố Long

XuY chuyển khoản 1.000.000 đồng cho Nguyễn Thị Cát P, số tiền còn lại tiêu

xài cá nhân.

Đến ngày 10/4/2022, Hưng đến Công ty làm việc thì phát hiện bị mất máy

tính xách tay nên báo cho Nguyễn Hùng Duy (Duy là trưởng phòng) biết và kiểm

tra camera của Công ty thì phát hiện Y lấy trộm tài sản. Đến 09 giờ 00 phút ngày

11/4/2022, Y đến Công ty làm việc thì Duy nói cho Y biết việc camera ghi lại

hình ảnh Y lấy trộm tài sản. Lúc này, Y đem trả 02 máy tính xách tay nhãn hiệu

HP và Asus cho Duy rồi đến Công an phường Mỹ X đầu thú.

- Vật chứng thu giữ và xử lý vật chứng:

01 máy tính xách tay nhãn hiệu HP Davilion 15EG0009TLL đã giao trả

cho Võ Thị Lan P, 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Asus A510UEJ1123T đã trả

cho Phạm Thị Kiều L, 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Vostro 15-5568 đã

trả cho Nguyễn Thị Quỳnh N, 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Inspirion

5468K5CDP11 đã trả cho Nguyễn Hoàng H; số tiền 11.260.000 đồng, trong đó:

260.000 đồng do Nguyễn Bình Y giao nộp, 1.000.000 đồng do Nguyễn Thị Cát

P giao nộp và 10.000.000 đồng do Nguyễn Văn N (Niên là cha ruột của Y), đang

còn tạm giữ để xử lý.

- Kết luận định giá tài sản số 47/KL-HĐĐG.TTHS ngày 11/4/2022 của Hội

đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Long XuY: 01 máy tính

xách tay nhãn hiệu HP Davilion 15EG0009TLL, trị giá 10.353.000 đồng; 01 máy

tính xách tay nhãn hiệu Asus A510UEJ1123T, trị giá 7.074.000 đồng; 01 máy

tính xách tay nhãn hiệu Dell Vostro 15-5568 (077M52), trị giá 6.750.000 đồng;

01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Inspirion 5468K5CDP11, trị giá 7.215.000

đồng. Tổng trị giá tài sản 31.392.000 đồng.

Ngày 14/4/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Long XuY

khởi tố, tạm giam Y, để điều tra xử lý.

Tại Cáo trạng số 46/CT-VKSLX-HS ngày 27 tháng 6 năm 2022, Viện kiểm

sát nhân dân thành phố Long XuY đã truy tố bị cáo Nguyễn Bình Y về tội “Trộm

cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ

sung năm 2017.

Tại phiên tòa,

- Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng

truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên và

xin Hội đồng xét xử xử phạt nhẹ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Âu Minh H cung

cấp lời khai như trong giai đoạn điều tra.

- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Giữ nguY Quyết định truy tố bị cáo

về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự

năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về hình phạt, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1,

khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Bình Y từ 09 tháng đến 01 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự, đề nghị áp dụng Điều 586 và 589 Bộ luật Dân sự

năm 2015, buộc bị cáo bồi thường cho Công ty cổ phần dịch vụ bất động sản Nam Miền Tây số tiền 1.720.000 đồng, bồi thường cho ông Âu Minh H số tiền 10.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành

tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Long XuY, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long XuY, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Về hành vi bị truy tố bị cáo, bị cáo khai nhận do không có tiền trả nợ

và tiêu xài nên bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của Công ty và của nhân viên Công ty. Đến khoảng 19 giờ 00 phút ngày 09/4/2022, bị cáo quan sát không có người trông giữ tài sản nên đã thực hiện hành vi chiếm đoạt 01 con heo đất, bên trong có số tiền 1.720.000 đồng của Công ty và 04 máy tính xách tay là tài sản của các ông, bà Võ Thị Lan P, Phạm Thị Kiều L, Nguyễn Thị Quỳnh N và Nguyễn Hoàng H là nhân viên của Công ty. Sau đó, để các máy tính xách tay này vào balo đem về nhà trọ Thiên Kim thuộc phường Bình Đức, thành phố Long XuY cất giấu. Đến khoảng 10 giờ 00 phút ngày 10/4/2022, bị cáo đem 02 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell đến cửa hàng điện thoại D8 Long XuY 2 thuộc phường Mỹ Long, thành phố Long XuY bán cho Âu Minh H số tiền 10.000.000 đồng. Đến 09 giờ 00 phút ngày 11/4/2022, biết được hành vi chiếm đoạt tài sản của bị cáo bị phát hiện nên đem trả 02 máy tính xách tay nhãn hiệu HP và Asus cho ông Duy rồi đến Công an phường Mỹ X đầu thú.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo ở giai

đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của bị hại; phù hợp với biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú do Cán bộ Công an phường Mỹ X, thành phố Long XuY lập ngày 11/4/2022; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác gồm: biên bản khám nghiệm hiện trường cùng sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường kèm theo.

Ngoài ra, lời khai của bị cáo còn phù hợp với vật chứng bị thu giữ là 04

máy tính xách tay.

Từ các chứng cứ trên, có cơ sở xác định, khi phát hiện bị hại sơ hở trong

việc bảo quản tài sản, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt số tiền 1.720.000 đồng của

Công ty và 04 máy tính xách tay do các ông, bà Phương, Linh, Như và Hưng quản

lý, sử dụng.

Về giá trị tài sản bị chiếm đoạt, theo Kết luận định giá tài sản số 47/KL-

HĐĐG.TTHS ngày 11/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự

thành phố Long XuY, 04 máy tính xách tay, tổng trị giá 31.392.000 đồng.

Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi

chiếm đoạt tài sản của Công ty và của các ông, bà Phương, Linh, Như và Hưng là

xâm phạm quyền sở hữu của người khác nhưng vẫn cố ý thực hiện thông qua việc

lợi dụng sự sơ hở, thiếu cảnh giác trông coi tài sản của bị hại, để thực hiện hành

vi chiếm đoạt, nhanh chóng mang tài sản đi nơi khác nhằm tránh sự phát hiện của

bị hại và Cơ quan chức năng. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành

tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm

2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long XuY truy

tố bị cáo ra trước phiên tòa hôm nay và lời buộc tội của đại diện Viện kiểm sát

nhân dân thành phố Long XuY tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và

phù hợp với quy định của pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân, quyền sở hữu là

một trong những quyền thiêng liêng gắn với mỗi cá nhân, được pháp luật ghi nhận

và bảo vệ. Trong lĩnh vực luật hình sự, những ai xâm phạm đến quyền sở hữu của

người khác, đáp ứng quy định của pháp luật hình sự sẽ bị áp dụng chế tài nghiêm

khắc nhất là hình phạt.

Bị cáo là người đang ở tuổi lao động, có công việc ổn định. Đáng lẽ, bị cáo

phải chí thú làm ăn để tạo ra thu nhập chính đáng để nuôi sống bản thân, gia đình

nhưng vì hám lợi, lười lao động, bị cáo trộm cắp tài sản của người khác. Hành vi

của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu

của người khác mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần có hình

phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để đảm

bảo mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra cũng

như tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối

cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người phạm tội tự

nguyện bồi thường thiệt hại; đầu thú. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm

hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Vì vậy, cần xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

Về hình phạt bổ sung, do bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo nên

không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Trong giai đoạn điều tra, do được bị cáo tác động nên ông Nguyễn Văn N

(Niên là cha ruột của bị cáo) đã nộp số tiền 10.000.000 đồng để bồi thường. Do ông Niên không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền này nên không đề cập giải quyết.

Sau khi nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, các ông, bà Phương, Linh, Như và

Hưng không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên không đề cập giải quyết.

Đối với yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 1.720.000 đồng của Công ty cổ

phần dịch vụ bất động sản Nam Miền Tây. Thấy rằng, bị cáo chỉ chiếm đoạt của Công ty số tiền 1.710.000 đồng nhưng theo bị cáo khi lấy tiền từ bên trong heo đất ra qua khe của heo đất nên bị rách 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng nên bị cáo bỏ tờ tiền này lại vào bên trong heo đất và tại phiên toà bị cáo đồng ý bồi thường số tiền 1.720.000 đồng cho Công ty. Xét, đây là số tiền bị cáo chiếm đoạt của Công ty nên có trách nhiệm bồi thường cho Công ty cho nên chấp nhận yêu cầu của Công ty, buộc bị cáo bồi thường cho Công ty số tiền 1.720.000 đồng theo Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và các Điều 584, 585, 586 và 589 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Sau khi giao nộp 02 máy tính xách tay đã mua từ bị cáo, ông Hạnh yêu cầu

bị cáo trả lại số tiền 10.000.000 đồng. Xét, buộc bị cáo hoàn trả cho ông Hạnh số tiền 10.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

- Trong giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra đã giao trả cho bà Võ Thị Lan

P 01 máy tính xách tay nhãn hiệu HP Davilion 15EG0009TLL, giao trả cho bà Phạm Thị Kiều L 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Asus A510UEJ1123T, giao trả cho bà Nguyễn Thị Quỳnh N 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Vostro 15-5568, giao trả cho ông Nguyễn Hoàng H 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Inspirion 5468K5CDP11 là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên không đề cập xử lý lại.

- Đối với số tiền 260.000 đồng do bị cáo giao nộp và 1.000.000 đồng do bà

Nguyễn Thị Cát P giao nộp, đây là số tiền bị cáo chiếm đoạt của Công ty. Do bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho Công ty nên tiếp tục tạm giữ số tiền này để đảm bảo việc bồi thường cho Công ty.

Về trách nhiệm của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Đối với ông Âu Minh H đã có hành vi mua 02 máy tính xách tay do bị cáo

chiếm đoạt của các bị hại nhưng ông Hạnh không biết tài sản này liên quan đến việc phạm tội nên trách nhiệm hình sự không đặt ra đối với ông Hạnh là phù hợp với quy định pháp luật.

Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định. Riêng, đối với án

phí dân sự sơ thẩm, bị cáo có nghĩa vụ bồi thường cho Công ty cổ phần dịch vụ bất động sản Nam Miền Tây số tiền 1.720.000 đồng; hoàn trả cho ông Âu Minh

H số tiền 10.000.000 đồng. Tuy nhiên, trước khi phiên toà được mở, bị cáo đã tự

nguyện giao nộp bồi thường số tiền 11.260.000 đồng cho nên bị cáo không phải

chịu án phí dân sự đối với số tiền 11.260.000 đồng; số tiền còn lại 460.000 đồng

mặc dù, bị cáo và bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã tự

nguyện thoả thuận bồi thường với nhau nhưng theo khoản 8 Điều 26 Nghị quyết

số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ

Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí

và lệ phí Tòa án quy định “Trường hợp các bên đương sự thỏa thuận được với

nhau về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa sơ thẩm thì các đương sự vẫn phải chịu

án phí dân sự sơ thẩm như trường hợp xét xử vụ án đó”. Cho nên, bị cáo phải chịu

án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền 460.000 đồng là 300.000 đồng.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền

kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51,

Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

TuY bố bị cáo Nguyễn Bình Y phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt: Nguyễn Bình Y: 09 (chín) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị tạm

giam, ngày 11/4/2022 (ngày mười một, tháng tư, năm hai nghìn không trăm hai

mươi hai).

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, được

sửa đổi, bổ sung năm 2017 và các Điều 584, 585, 586 và 589 Bộ luật Dân sự

năm 2015;

- Buộc bị cáo bồi thường cho Công ty cổ phần dịch vụ bất động sản Nam

Miền Tây số tiền 1.720.000 (một triệu, bảy trăm hai nghìn) đồng.

- Buộc bị cáo có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Âu Minh H số tiền 10.000.000

đồng (mười triệu đồng).

Tiếp tục tạm giữ số tiền 11.260.000 (mười một triệu, hai trăm sáu mươi

nghìn) đồng, trong đó, bị cáo giao nộp 260.000 (hai trăm sáu mươi nghìn) đồng,

bà Nguyễn Thị Cát P giao nộp 1.000.000 (một triệu) đồng, ông Nguyễn Văn N

giao nộp 10.000.000 (mười triệu) đồng tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an

thành phố Long XuY để đảm bảo thi hành án cho Công ty cổ phần dịch vụ bất

động sản Nam Miền Tây và ông Âu Minh H. Theo giấy nộp tiền do Cán bộ Cơ

quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Long XuY nộp vào tài khoản của Công

an thành phố Long XuY tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển

Việt Nam - Chi nhánh An Giang.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối

với khoản tiền phải bồi thường cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm

2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Nguyễn Bình Y phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án

phí hình sự sơ thẩm và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự

năm 2015;

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuY án, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ

liên quan đến vụ án ông Âu Minh H có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

đến vụ án vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ