vanban.org

Bản án 61/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bến Tre, tỉnh Bến Tre Tuyên án 25/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phương Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Phương Đ 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/3/2022. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: 01 cái kéo bằng kim loại dài 21 cm, lưỡi dài 12 cm, cán bọc nhựa màu đen đã qua sử dụng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Phương Đ - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phương Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẾN TRE
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2022/HS-ST
Ngày: 25/7/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Văn Trình

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Hưng

2. Ông Trần Văn Hổ

-Thƣ ký phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Vương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre tham gia phiên toà: Ông Lại Đức Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 41/2022/TLST-HS ngày 07/6/2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2022/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2022, đối với bị cáo:

Nguyễn Phƣơng Đ (T), sinh năm 1982 tại tỉnh Bến Tre; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số 386A, Khu phố 1, Phường N, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre; chổ ở hiện nay: Nhà trọ A, khu phố B, Phường S, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre; trình độ văn hóa: 08/12; nghề nghiệp: phụ hồ; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn G, sinh năm 1949 (chết) và bà Trần Kim H, sinh năm: 1955; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/3/2022 cho đến nay, có mặt.

- Bị hại: Văn Công D (đã chết).

Đại diện hợp pháp của bị hại:

1. Văn Công T, sinh năm 1945; nơi cư trú: ấp 1, xã T, huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang.

2. Huỳnh Thị D, sinh năm 1949; nơi cư trú: ấp 1, xã T, huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang.

3. Nguyễn Thụy Trường V, sinh năm 1979; nơi cư trú: 340A1, khu phố 1, phường N, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

4. Văn Huyền Bích L, sinh năm 2001; nơi cư trú: 340A1, khu phố 1, phường N, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre

- Người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại: Nguyễn Thị Ph (Qu), sinh năm 1973; nơi cư trú: Số 257A, khu phố 3, phường T, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. (có mặt)

(Nguyễn Thụy Trường V, Văn Huyền Bích L ủy quyền theo văn bản ngày 03/3/2021 và Văn Công T, Huỳnh Thị D ủy quyền theo văn bản ngày 08/3/2021)

- Người làm chứng:

1. Nguyễn Thành H, sinh năm 1968, nơi cư trú: Số 325A, khu phố 1, phường N, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. (có mặt)

2. Nguyễn Thị M, sinh năm 1962; nơi cư trú: số 80D2, khu phố B, Phường S, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. (vắng mặt)

3. Phan Thị Thu H, sinh năm 1995; nơi cư trú: khu phố B, Phường S, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 00 ngày 27/01/2021, Nguyễn Phương Đ cùng với Văn Công D và Nguyễn Thành H tổ chức uống rượu tại phòng trọ số 6 của Đ thuộc nhà trọ A ở số 318C, khu phố B, phường S, thành phố Bến Tre. Đến khoảng 13 giờ 30 cùng ngày thì giữa Đ và D phát sinh mâu thuẫn và cự cãi nhau. Trong lúc cự cãi, D dùng nón bảo hiểm đánh trúng vào vùng trán của Đ gây chảy máu, Đ liền chụp lấy cây kéo đang để trong phòng để đánh lại D thì D bỏ chạy ra ngoài và chạy ra hẻm L nên Đ đuổi theo. Được khoảng 25m thì Đ đuổi kịp D và xông vào dùng cây kéo đâm trúng vào đầu của D một cái làm D bị rách da đầu và ngồi xổm trên đường nhựa, thấy vậy Đ tiếp tục dùng chân đá mạnh vào người của D một cái làm D ngã ngửa đập đầu xuống mặt đường nhựa bị thương tích nặng vùng đầu và được mọi người đưa vào cấp cứu và điều trị tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu – Bến Tre cho đến ngày 04/02/2021 thì D tử vong.

Vật chứng thu giữ: 01 cây kéo băng kim loại dài 21 cm, lưỡi dài 12 cm, cán bọc nhựa màu đen, đã qua sử dụng; 01 con dao “Thái lan” dài 21 cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 11 cm, cán dao bằng nhựa màu xanh dài 10cm , đã qua sử dụng; 01 con dao dài 30 cm, lưỡi dao bằng kim loại hình chữ nhật dài 18 cm, rộng 07cm, cán dao bằng gỗ màu nâu dài 12cm, đã qua sử dụng; 01 miếng lót nồi bằng vải đường kính 22cm, đã qua sử dụng.

Theo Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 30/TT ngày 16/3/2021, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre đối với Văn Công D xác định:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Mắt trái bị bầm tụ máu.

- Phù nề, giập rách da, bầm tụ máu vùng chẩm. Vết thương vùng thái dương phải. Hình không xác định, bờ mép nham nhở, đáy vết thương có cầu tổ chức, chiều hướng từ trên xuống dưới, từ phải sang trái.

- Xuất huyết, tụ máu tổ chức dưới da cơ vùng trán - thái dương - chẩm trái.

- Sung huyết màng cứng.

- Máu tụ dưới màng cứng bán cầu đại não phải, lượng nhiều.

- Xuất huyết lan tỏa dưới màng mềm hai bán cầu đại não.

- Xuất huyế, tụ máu quanh cầu não, tiểu não.

- Giập nhu mô não thủy trán phải.

- Máu tụ trong nhu mô não, lượng nhiều.

- Nhiều nốt sơ hóa ở hai đỉnh phổi. Nhu mô hai phổi kém xốp; có nhiều nốt và mảng xuất huyết.

- Dịch khoang màng ngoài tim và khoang bụng màu vàng sậm, lượng nhiều.

- Gan màu vàng nhạt, bề mặt sần sùi, mật độ cứng.

- Mô bệnh học:

+ Thủng da.

+ Tụ máu cạnh màng cứng.

+ Chảy máu dưới nhện.

+ Lao phổi.

+ Sơ gan.

2. Nguyên nhân chết:

Nạn nhân Văn Công D chết do chấn thương sọ não gây xuất huyết, tụ máu nội sọ và dập não trên cơ thể lao phổi, xơ gan.

Tại Bản kết luận giám định pháp y trên hồ sơ số 19/21/GĐHS ngày 11/5/2021, của Viện pháp y Quốc gia - Phân viện tại TP Hồ Chí Minh xác định:

1. Dấu hiệu chính qua giám định trên hồ sơ:

- Vết thương kích thước trung bình vùng thái dương phải.

- Sây sát da vùng cung mày trái. Mí mắt trái bầm tụ máu.

- Bầm tụ máu, xuất huyết tổ chức dưới da cơ vùng trán - thái dương - chẩm trái.

- Chấn thương sọ não: Tụ máu dưới màng cứng hai bán cầu, xuất huyết liềm não và lều tiểu não, giập - xuất huyết não thùy trán phải, xuất huyết dưới nhện lan tỏa.

2. Kết luận giám định trên hồ sơ:

- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019, của Bộ trưởng Bộ Y tế Qui định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, tỷ lệ tổn thương cơ thể do vết thương do vết thương vùng thái dương phải của nạn nhân Văn Công D là: 02%.

- Không loại trừ vết thương vùng thái dương phải nêu trên là yếu tố thuận lợi làm cho nạn nhân Văn Công D té ngã ngửa dẫn đến chấn thương sọ não.

- Vết thương vùng thái dương phải của nạn nhân Văn Công D là do vật sắc nhọn tác động trực tiếp gây nên.

Theo Bản kết luận giám định pháp y qua hồ sơ số 4687/C09B ngày 10/12/2021 của Phân Viện KHHS Bộ Công an tại Tp HCM kết luận:

- Vết thương rách da vùng thái dương phải có đặc điểm phù hợp do vật sắc nhọn; vật có cạnh sắc tác động gây ra, cây kéo (mẫu vật gửi giám định) gây ra được.

- Các tổn thương sây sát da, bầm tụ máu, chấn thương sọ não có đặc điểm phù hợp do tác động tương hỗ với vật tày gây ra, cây kéo (mẫu vật gửi giám định) không gây ra được.

Và tại Công văn số 97/C09B ngày 12/01/2022, của Phân viện KHHS tại thành phố Hồ Chí Minh xác định: Các tổn thương sây sát da, bầm tụ máu, chấn thương sọ não có đặc điểm phù hợp do các tác động tương hỗ với vật tày gây ra. Nếu bị té ngã xuống mặt đường nhựa cứng gây ra được các tổn thương có đặc điểm như trên.

Quá trình điều tra, Nguyễn Phương Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với biên bản sự việc, kết quả giám định, lời khai của người người làm chứng; kết quả thực nghiệm điều tra và các chứng cứ khác đã thu thập được. Cơ quan điều tra đã trao trả cho bà Trần Kim H (mẹ ruột bị cáo Đ) 01 dao “Thái lan” dài 21 cm; 01 dao cán gỗ dài 30cm và trả cho bà Nguyễn Thị M 01 miếng lót nồi băng vải. Đại diện gia đình Bị hại Văn Công D yêu cầu bị can Đ bồi thường chi phí điều trị thương tích, mai tang phí tổng cộng 25.000.000 đồng. Bị cáo đồng ý và đã bồi thường xong, hiện đại diện gia đình bị hại không yêu cầu gì thêm.

Tại Bản cáo trạng số: 47/CT-VKSTPBT ngày 06 tháng 6 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã truy tố bị cáo Nguyễn Phương Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị:

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo từ 07 đến 08 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

Về xử lý vật chứng: Ghi nhận Cơ quan điều tra đã trao trả cho bà Trần Kim H (mẹ ruột bị cáo Đ) 01 dao “Thái lan” dài 21 cm; 01 dao cán gỗ dài 30cm và trả cho bà Nguyễn Thị M 01 miếng lót nồi băng vải. Tịch thu tiêu hủy 01 cái kéo bằng kim loại dài 21 cm, lưỡi dài 12 cm, cán bọc nhựa màu đen đã qua sử dụng.

Trách nhiệm dân sự: ghi nhận đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 25.000.000 đồng, bị cáo đã bồi thường xong, đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu nào khác.

Bị cáo Nguyễn Phương Đ khai nhận khoảng 10 giờ 00 ngày 27/01/2021, bị cáo cùng với Văn Công D và Nguyễn Thành H tổ chức uống rượu tại phòng trọ số 6 của Đ thuộc nhà trọ A ở số 318C, khu phố B, phường S, thành phố Bến Tre. Đến khoảng 13 giờ 30 cùng ngày thì giữa bị cáo và D phát sinh mâu thuẫn và cự cãi nhau do bị cáo kêu D phụ tiền điện, nước nhưng D nói không có tiền nên bị cáo đuổi, không cho D ở cùng phòng với bị cáo. D dùng nón bảo hiểm đánh trúng vào vùng trán của bị cáo gây chảy máu nên bị cáo tức giận lấy cây kéo đang để trong phòng để đánh lại D thì D bỏ chạy ra ngoài nên bị cáo đuổi theo khoảng 25m thì đuổi kịp D và dùng cây kéo đâm trúng vào đầu của D một cái làm D bị rách da đầu, D ngồi xổm xuống đường nhựa, bị cáo tiếp tục dùng chân đá mạnh vào người của D một cái làm D ngã ngửa đập đầu xuống mặt đường nhựa bị thương tích nặng vùng đầu và được mọi người đưa vào cấp cứu và điều trị tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu – Bến Tre cho đến ngày 04/02/2021 thì Danh tử vong. Bị cáo không có ý tước đoạt mạng sống của Danh, bị cáo chỉ muốn đánh D vì D đánh bị cáo. Bị cáo thừa nhận nguyên nhân D chết là do hành vi của bị cáo gây ra. Bị cáo đã đưa tiền cho mẹ của bị cáo bồi thường cho gia đình của D 25.000.000 đồng. Bị cáo không khiếu nại gì đối với các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng.

Đại diện theo ủy quyền của đại diện hợp pháp của bị hại trình bày: Về trách nhiệm hình sự yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự bị cáo và mẹ của bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 25.000.000 đồng. Phía bị hại không có yêu cầu nào khác.

Người làm chứng Nguyễn Thanh H trình bày: Ngày xảy ra sự việc ông có uống rượu cùng với bị cáo và bị hại nhưng vào sau. Trong lúc uống rượu bị cáo và bị hại có cự cải qua lại, bị hại dùng nón bảo hiểm đánh vào đầu bị cáo, bị cáo cầm cây kéo đuổi theo bị hại ra ngoài đường. Do ông không chạy theo kịp nên không chứng kiến sự việc. Khi ông chạy đến nơi thì thấy bị hại đã nằm xuống đường, bị cáo cầm cây kéo nên ông đã giật lại cây kéo.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an thành phố Bến Tre, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, người làm chứng vắng mặt nhưng trong quá trình điều tra đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng, sự vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người làm chứng là phù hợp quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố Tụng hình sự.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị hại, những người tham gia tố tụng khác; phù hợp với tang vật thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra, có đủ cơ sở xác định: do bực tức vì bị Văn Công D dùng nón bảo hiểm đánh trúng đầu, vào khoảng 13 giờ 30 ngày 27/01/2021, tại hẻm L, khu phố B, phường S, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre Nguyễn Phương Đ đã có hành vi dùng kéo đâm vào vùng thái dương phải của D gây thương tích 02% và khi D ngồi xổm xuống đường hẻm thì Đ tiếp tục dùng chân đá mạnh vào người D một cái làm cho D ngã đập đầu xuống mặt đường nhựa bị chấn thương sọ não dẫn đến tử vong vào ngày 04/2/2021. Bị cáo không có ý muốn tước đoạt mạng sống của bị hại, bị cáo chỉ muốn đánh lại bị hại để thỏa cơn tức giận, hậu quả bị hại chết nằm ngoài ý muốn của bị cáo. Vì vậy, Bản cáo trạng số 47/CT-VKSTPBT ngày 06/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã truy tố bị cáo Nguyễn Phương Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Bị cáo nhận thức rõ hành vi đánh người khác gây thương tích bị pháp luật cấm nhưng bị cáo vẫn cố thực hiện và hậu quả đã xảy ra. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng của bị hại, làm bị hại té ngã dẫn đến tử vong, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, tạo sự hoài nghi, tâm lý bất an trong quần chúng nhân dân.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại”; “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi bị cáo gây ra, xét thấy cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là điều cần thiết nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung.

Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh đối với bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với quy định pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

Về xử lý vật chứng: Ghi nhận Cơ quan điều tra đã trao trả cho bà Trần Kim H (mẹ ruột bị cáo Đ) 01 dao “Thái lan” dài 21 cm; 01 dao cán gỗ dài 30cm và trả cho bà Nguyễn Thị M 01 miếng lót nồi băng vải. Tịch thu tiêu hủy 01 cái kéo bằng kim loại dài 21 cm, lưỡi dài 12 cm, cán bọc nhựa màu đen đã qua sử dụng là hung khí bị cáo dùng để gây thương tích cho bị hại và không còn giá trị sử dụng.

Trách nhiệm dân sự: ghi nhận đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 25.000.000 đồng, bị cáo đã bồi thường xong, đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu nào khác.

Về án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phương Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

1. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Phương Đ 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/3/2022.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: 01 cái kéo bằng kim loại dài 21 cm, lưỡi dài 12 cm, cán bọc nhựa màu đen đã qua sử dụng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/7/2022, hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre quản lý).

3. Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 và Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Phương Đ phải nộp là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ