vanban.org

Bản án 61/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 12, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 15/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng D 06 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoàng D phạm tội “Cố ý gây thương tích” - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật s…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2022/HS-ST
Ngày: 15/4/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đức Lê

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Tiên

Ông Nguyễn Văn Quản

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Phú Tuấn – Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Giầu – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Số 277/50 Khu phố 3, phường Tân Thới Hiệp, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 211/2021/HSST ngày 17 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 192/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 3 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Hoàng D; sinh năm 1993, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: B1, Tổ 2, Khu phố 3, phường Đ, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: B320Bis, Khu phố 3, phường Đ, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông Nguyễn Văn H và bà Huỳnh Thị Kim L; Hoàn cảnh gia đình: Có vợ, 01 con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: ÔngNguyễn Minh T; sinh năm 1996;

Hộ khẩu thường trú: B314 tổ 4, khu phố 3, phường Đông Hưng Thuận, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh (Có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 21/11/2020, Nguyễn Hoàng D cùng với Chung Kim H, Đinh Văn TH và T1 chưa xác định được lai lịch tổ chức ăn uống ở tại trước địa chỉ B16, đường Tô Ký, tổ 3A, khu phố 3, phường Đông Hưng Thuận, Quận 12. Đến khoảng 20 giờ 00 phút, cùng ngày H rủ T đến nhậu chung. Trong lúc ăn uống giữa T, H và D xảy ra mâu thuẫn. Do bức xúc vì bị T chửi nên D về nhà số B320Bis, tổ 3A, khu phố 3, phường Đông Hưng Thuận, Quận 12, lấy 01 con dao dài khoảng 40cm đi đến nơi ăn ống để chém T. Khi đến nơi D đi ra sau lưng T chém vào lưng bên trái của T 01 cái gây thương tích. Sau đó, T dùng tay không đánh trả lại D thì bị D tiếp tục dùng dao chém cái thứ 2 thì T đưa hai tay lên đỡ thì trúng ngón tay cái bên phải gây đứt lìa đốt ngón tay, chém cái thứ 3 trúng vào lòng bàn tay trái gây rách da và đứt gân ngón 2 tay trái, chém cái thứ 4 gây rách da lòng bàn tay phải và rách da ở ngón 3 tay phải. Đồng thời lưỡi dao khi D chém bị trượt xuống trúng ngực gần hỏm nách bên trái của T. T bỏ chạy, D cầm dao đuổi theo phía sau, khi đến địa chỉ số B334, tổ 2, khu phố 3, phường Đông Hưng Thuận, Quận 12 thì T nhặt được một vỏ chai bia ném trúng trán D gây thương tích, nên D dừng lại bỏ đi, rồi đến bệnh viện để khâu vết thương, đồng thời ném bỏ con dao lên xe thu gom rác (chưa xác định). Còn T được người thân đưa đến Bệnh viện 175 cấp cứu và điều trị. Ngày 22/11/2020 Nguyễn Minh T có đơn trình báo Công an phường Đông Hưng Thuận, Quận 12 xử lý.

Tại bản kết luận giảm định pháp y về thương tích số 133/TgT.21 ngày 04/3/2021 của Trung tâm pháp y Thành phố Hồ Chí Minh Kết luận thương tích đối với Nguyễn Minh T như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Theo hồ sơ bệnh án Bệnh viện Quân Y Bệnh viện 175 nhập viện ngày 21/11/2020

Vết thương ngón 1 tay trái gây đứt lìa ngón đã được điều trị tạo ngón cụt, tình trạng ổn định.

Có tỉ lệ 11% .

Vết thương vùng mặt lòng bàn tay ngón 4 tay phải gây đứt da, đứt gân gấp nông sâu đã được điều trị khâu gân hiện còn:

+ Một sẹo kích thước 2,5x0,lcm.

+ Hình ảnh mẻ xương đốt gần ngón 4 ngay dưới vị trí vết thương trên phim Xquang

+ Hạn chế duỗi ngón do co rút gân.

Có tỷ lệ 5%.

Hai vết thương trên do vật sắc, vật sắc nhọn tác động gây ra.

- Vết thương ngón 2 tay trái gây đứt da, đứt gân gấp nông sâu đã được điều trị khấu gân hiện còn sẹo kích thước 5,5x0,15cm gồm sẹo chém trùng sẹo mổ, hạn chế duỗi ngón co rút gân.

Có tỷ lệ 05%.

- Vết thương vùng mặt lòng bờ trụ bàn tay trái gây đứt da, đứt bán phần cung gan tay nông và gân gấp nông ngón 5, dứt nhánh cảm giác ngón 4-5 thần kinh trụ đã được điều trị khâu buộc mạch máu, gân cơ hiện còn

+ Một sẹo kích thước 9,1x0,15cm gồm sẹo chém trùng sẹo mổ.

+ Tổn thương nhánh cảm giác thần kinh trụ trên diện cơ dồ.

+ Tê ngón 4,5; Vận động bình thường.

Có tỷ lệ: 14%

- Đa vết thương phần mềm đã được điều trị hiện còn:

+ Một sẹo vùng ngón 3 tay phải kích thước 3,2x(01-0,5) cm.

Có tỷ lệ 01%.

+ Một sẹo vùng lưng giữa trái kích thước 8x(0,1-0,6)cm

Có tỷ lệ 02%.

Theo biên bản xem xét dấu vết trên thân thể lập ngày 22/12/2020:

- Ngoài vết thương đã giám định ở trên, còn nghi nhận vết thương phần mềm vùng ngực cạnh nách trái. Hiện còn một sẹo kích thước 6,5x(0,1-0,4) cm, tình trạng ổn định.

Có tỷ lệ: 02 %

Năm vết thương trên do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động gây ra. Cộng lùi các tỉ lệ trên theo thông tư 22/2019/TT-BYT sẽ ra tỉ lệ 34,32%, làm tròn số sẽ là 34%.

2. Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 ngày 28/8/2019 của Bộ y tế quy định tỉ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần:

Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 34%.

3. Kết luận khác:

- Hung khí không thu giữ được nên không đủ cơ sở để trả lời.

Vật chứng vụ án:

- 01 con dao dài khoảng 40cm, không thu hồi được.

Về phần dân sự: Nguyễn Hoàng D bồi thường tiền thuốc là 4.000.000 đồng cho bị hại Nguyễn Minh T, nên anh T có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với D và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại Cáo trạng số 183/CTr-VKS ngày 13 tháng 08 năm 2021 Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng D về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 vẫn giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Hoàng D về tội “Cố ý gây thương tích”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng D 05 năm 06 tháng đến 06 năm 06 tháng tù.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh; bị cáo không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình và nói lời sau cùng, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 12, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan T hành tố tụng, những người T hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan T hành tố tụng, những người T hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo cũng đã khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Khoảng 20 giờ ngày 21/11/2020, Nguyễn Hoàng D cùng với Chung Kim H, Đinh Văn TH; Nguyễn Minh T và T1 chưa xác định lai lịch tổ chức ăn uống ở tại trước địa chỉ B16, đường Tô Ký, tổ 3A, khu phố 3, phường Đông Hưng Thuận, Quận 12, trong lúc ăn uống giữa T, H và D xảy ra mâu thuẫn nên D đã sử dụng dao chém gây thương tích cho T với tỷ lệ tổn thương là 34%. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai bị hại, tang vật thu giữ và các tài liệu khác mà cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng D đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe người của người khác được pháp luật bảo vệ; Bị cáo nhận thức được mọi hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác đều bị pháp luật trừng trị rất nghiêm khắc; Trong vụ án này do mâu thuẫn trong quan hệ tình cảm giữa vợ chồng D và T, dẫn đến D bức xúc và hành động thiếu suy nghĩ, thiếu kiềm chế nên cố tình thực hiện hành vi đến cùng, với hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện tính xem thường pháp luật, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần thiết phải xử lý nghiêm minh bị cáo trước pháp luật nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải, bị cáo bồi thường trách nhiệm dân sự cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo do đó xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt. Với hành vi cố tình thực hiện hành vi phạm tội đến cùng bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm e khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Hoàng D bồi thường tiền thuốc là 4.000.000 đồng cho bị hại Nguyễn Minh T, anh T không có yêu cầu bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xét.

Xử lý vật chứng

- 01 con dao dài khoảng 40cm, không thu hồi được.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; e khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng D 06 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng tù; Thời

hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án.

Về án phí:

Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí

năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội; Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo:

Áp dụng các Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo

có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ