- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Khắc Chung cùng đồng phạm phạm tội cố ý làm hư hỏng tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, b…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Hoàng Minh P 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý làm hƣ hỏng tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/3/2022.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2022/HS-ST Ngày: 20-7-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Chung.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Thả – Giám đốc Trung tâm giáo dục thường xuyên huyện Tân Châu;
Ông Võ Văn Hoa Vinh – Bí thư xã Suối Dây, huyện Tân Châu.
Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Quốc Việt, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Đức – Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 55/2022/TLST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2022/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Phan Khắc C, sinh năm 1972 tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp Trâm Vàng 2, xã Thanh Phước, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh; Chỗ ở: Ấp Hội Thành, xã Tân Hội, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn Thành (chết) và bà Trần Thị Ni; có vợ là Trần Thị S (không đăng ký kết hôn); tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/3/2022 đến ngày 08/7/2022 được cho bảo lĩnh (có mặt).
2. Cao Minh T (Bầu), sinh năm 1993 tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp Trâm Vàng 2, xã Thanh Phước, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh; Chỗ ở: Khu phố 1, thị trấn Tân Châu, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Minh Mẫn và bà Hồ Thị Lắng; tiền án: Không có; tiền sự: Ngày 17/3/2021 bị Uỷ ban nhân dân thị trấn Tân Châu, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi “Xâm hại đến sức khoẻ của người khác” và phạt 750.000 đồng về hành “Sử dụng trái phép chất ma tuý”, nộp phạt vào ngày 19/3/2021. Ngày 31/3/2021 bị Uỷ ban nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 10.000.000 đồng về hành vi “Cho vay tiền có cầm cố tài sản nhưng lãi suất cho vay vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm cho vay”, chưa chấp hành nộp phạt cho đến ngày phạm tội; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/3/2022 đến ngày 08/7/2022 được cho bảo lĩnh (có mặt).
3. Trần Trung Tr, sinh năm 2002 tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp Thạnh Phú, xã Tân Hiệp, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Sinh viên; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quốc Phong và bà Lê Thị Thúy An; tiền án: Không có; tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1420/QĐ-XPHC ngày 30/4/2021 của Công an huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi “Xâm hại đến sức khoẻ của người khác”, chưa nộp phạt; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/3/2022 đến ngày 08/7/2022 được cho bảo lĩnh (có mặt).
4. Hoàng Minh P, sinh năm 2001 tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp Tân Kiên, xã Tân Hà, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn Viên và bà Đinh Thị Thắng; có vợ là Nguyễn Thị Ánh Nguyệt và 01 người con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/3/2022 đến nay (có mặt).
5. Lê Hoàng D, sinh năm 1992 tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp Tân Trung, xã Tân Hà, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Dự và bà Huỳnh Thị Lệ; có vợ là Võ Thị Kim Bình (đã ly hôn) và 01 người con sinh năm 2017; tiền án: Tại Bản án số 35/2018/HSST ngày 10/7/2018 của Toà án nhân dân thị xã Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh áp dụng điểm c khoản 2 Điều 230 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt 04 năm tù về tội “Vận chuyển, mua bán trái phép vũ khí quân dụng”, đến ngày 20/9/2021 chấp hành xong hình phạt tù tại Trại giam Cây Cầy, chưa được xoá án tích; tiền sự: Không có; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/3/2022 đến ngày 08/7/2022 được cho bảo lĩnh (có mặt).
6. Nguyễn Minh T, sinh năm 1995 tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp Hòa Đông A, xã Hòa Hiệp, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh; Chỗ ở: Ấp Đông Thành, xã Tân Đông, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Vẹn và bà Huỳnh Thị Dén; có vợ là Huỳnh Thị Trúc Mai và 01 người con sinh năm 2015; tiền án: Tại Bản án số 45/2019/HS-ST ngày 24/6/2019 của Toà án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh căn cứ khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 03/9/2020 tại Trại giam Cây Cầy, chưa được xoá án tích; tiền sự: Không có; nhân thân: Ngày 27/9/2012, bị Uỷ ban nhân dân xã Tân Đông, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh áp dụng biện pháp giáo dục tại xã thời hạn 06 tháng. Ngày 14/6/2013, bị Toà án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 01 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, buộc bồi thường cho các bị hại 27.400.000 đồng, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 05/12/2013, do thời điểm phạm tội và bị xét xử chưa đủ 18 tuổi nên không xem là có tiền án. Ngày 23/3/2015 bị Công an xã Tân Hoà, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/3/2022 đến ngày 12/7/2022 được cho bảo lĩnh (có mặt).
7. Nguyễn D Th, sinh năm 2003 tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp Hội Thạnh, xã Tân Hội, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn D Tân và bà Nguyễn Thị Diễm; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/3/2022 đến ngày 13/7/2022 được cho bảo lĩnh (có mặt).
8. Bạch Ngọc Thắng, sinh ngày 29/11/2001 tại tỉnh Bắc Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp Tân Kiên, xã Tân Hà, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bạch Ngọc Tr và bà Nguyễn Thị Loan; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Ngày 15/12/2015 bị Công an xã Tân Hà, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh phạt cảnh cáo về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. Ngày 19, 20/6/2016, bị Công an xã Tân Hà, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh phạt cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Ngày 30/10/2018, bị Toà án nhân dân huyện Tân Châu xử phạt 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, đã chấp hành xong hình phạt tù, do thời điểm phạm tội và bị xét xử chưa đủ 18 tuổi nên không xem là có tiền án. Ngày 29/8/2019, bị Công an xã Tân Hà xử phạt 370.000 đồng và ngày 20/9/2019, bị Công an xã Tân Hà xử phạt 500.000 đồng cùng hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. Ngày 02/01/2020, bị Uỷ ban nhân dân xã Tân Hà, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh áp dụng biện pháp giáo dục tại xã thời hạn 03 tháng. Ngày 26/5/2020, bị Toà án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 02/7/2021 tại Trại giam Cây Cầy, do thời điểm phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên không xem là có tiền án; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/3/2022 đến ngày 13/7/2022 được cho bảo lĩnh (có mặt).
9. Phạm Văn H (Chim), sinh năm 2001 tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp Tân Trung, xã Tân Hà, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Cảnh Lữ và bà Nguyễn Thị Thu Điền; tiền án: Không có; tiền sự: Tại Quyết định số 23/QĐ-TA ngày 06/3/2020 của Toà án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 15 tháng, chấp hành xong vào ngày 18/02/2021, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/3/2022 đến nay (có mặt).
10. Nguyễn Hoài T1, sinh năm 2001 tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp Hội Thạnh, xã Tân Hội, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh Vương và bà Nguyễn Thị Kim Chi; tiền án: Không có; tiền sự: Tại Quyết định số 03/QĐ-UBND ngày 04/01/2022 của Uỷ ban nhân dân xã Tân Hội, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, thời hạn 03 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”, chưa chấp hành xong nên chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03/3/2022 đến nay (có mặt).
11. Nguyễn Tuấn A, sinh năm 2001 tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp Hội Phú, xã Tân Hội, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Mót và bà Trần Thị Cương; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03/3/2022 đến nay (có mặt).
12. Nguyễn Nhật T2, sinh ngày 02/3/2003 tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp Hội Thạnh, xã Tân Hội, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Vũ Cường và bà Huỳnh Thị Xuân Đào; tiền án: Không có; tiền sự: Tại Quyết định số 186/QĐ-XPVPHC ngày 08/7/2021 của Uỷ ban nhân xã Tân Hội xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Tàng trữ, cất giấu trong người, đồ vật, P tiện giao thông các loại dao, búa, các loại công cụ P tiện khác thường dùng trong lao động, sinh hoạt hàng ngày nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích cho người khác”, đã chấp hành nộp phạt, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/3/2022 đến nay (có mặt).
13. Phạm Quốc H, sinh năm 1990 tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp Thạnh Hiệp, xã Thạnh Đông, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Lượm và bà Ngô Thị Dân; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Ngày 22/9/2010, bị Toà án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 06 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm về tội “Cố ý gây thương tích”. Ngày 13/8/2018, bị Toà án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng về tội “Tổ chức đánh bạc”, chấp hành xong phần án phí hình sự vào ngày 08/10/2018, chấp hành xong hình phạt vào ngày 13/02/2020 cho đến ngày phạm tội; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/3/2022 đến ngày 11/7/2022 được cho bảo lĩnh và đang bị bắt tạm giam trong một vụ án khác từ ngày 11/7/2022 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh (có mặt).
14. Trần Trí K, sinh ngày 06/12/2005 tại tỉnh Tây Ninh (đến ngày phạm tội bị cáo được 16 tuổi 01 tháng 20 ngày); nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp Thạnh Phú, xã Tân Hiệp, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn Thái (chết) và bà Trần Kim H; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/4/2022 đến nay (có mặt).
Ngƣời bào chữa cho bị cáo K: Bà Võ Thị Tú Quyên – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Tây Ninh (có mặt).
Ngƣời đại diện hợp pháp của bị cáo K: Bà Trần Kim H, sinh năm 1976; địa chỉ: Ấp Thạnh Phú, xã Tân Hiệp, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh (có mặt).
Bị hại:
- Ông Trần Văn L, sinh năm 1976; địa chỉ: Số 20, Võ Văn Tần, khu phố Thanh Bình, phường Tân Bình, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước (vắng mặt, có đơn đề ngị xét xử vắng mặt).
- Anh Bùi Ngọc Tuấn, sinh năm 1996; địa chỉ: Ấp 7, xã Tân Thành, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước (vắng mặt).
Ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bị hại: Luật sư Trịnh Đắc Huynh – Văn phòng Luật sư Huynh và cộng sự thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Bình Phước (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phan Khắc Điền, sinh năm 1980; địa chỉ: Ấp Trâm Vàng 2, xã Thanh Phước, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh (có mặt).
- Ông Lê Văn Dự, sinh năm 1968; địa chỉ: Ấp Tân Trung, xã Tân Hà, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh (có mặt).
- Anh Trần Minh Nhựt, sinh năm 1985; địa chỉ: Ấp Tân Lâm, xã Tân Hà, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh (có mặt).
- Ông Trần Quang Dũng, sinh năm 1976; địa chỉ: khu phố 1, thị trấn Tân Châu, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngô Thị Diễm T, sinh năm 1995 là con ruột của bà Trần Thị S, sinh năm 1976 cùng ngụ ấp Hội Thành, xã Tân Hội, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh có nợ tiền của chị Nguyễn Ngọc G, sinh năm 1995 với số tiền là 2.500.000.000 đồng nhưng chưa trả, chị Giàu đã bán số nợ trên lại cho Công ty mua bán nợ “Nhất Tín” có trụ sở tại số 4, đường Võ Văn Tần, phường Tân Bình, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước do anh Trần Văn L, sinh năm 1976 ngụ xóm 15, xã Chính Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam làm giám đốc. Để thu hồi số nợ trên, anh L cùng một số nhân viên của Công ty đã nhiều lần đến khu vực trước nhà bà S để khảo sát, dẫn đến nhóm người của anhL với bà S và Phan Khắc C (người sống chung như vợ chồng với bà S) xảy ra mâu thuẩn với nhau.
Vào khoảng 11 giờ ngày 06/01/2022, trong lúc bà S, C đang uống nước tại khu vực thị trấn Tân Châu thì C nhận được điện thoại của anh L về việc anh L và một số nhân viên của Công ty muốn gặp bà S, C để bàn về việc trả nợ thì C cho biết không có ở nhà. Do bực tức nên C điện thoại cho Cao Minh T (là cháu của C), kêu T rủ thêm một số người bạn của T mang theo hung khí (cây tầm vông) đến nhà của C để hù doạ làm cho nhóm anh L sợ không đến nhà đòi tiền nữa, nếu xong việc C sẽ cho tiền T và T điện thoại rủ thêm Hoàng Quốc M, Lê Đức D, Nguyễn Văn H, Lê Trọng Minh K, Trần Trung Tr, Trần Trí K cùng tham gia. Sau đó, trong lúc ngồi uống bia tại chòi rẫy của C thì Tr điện thoại rủ Trần Trung H đến cùng uống bia, H đi cùng 04 người bạn của H (chưa định được nhân thân, lai lịch), trong lúc uống bia T rủ H cùng tham gia đánh nhóm của L thì H đồng ý.
Đến khoảng 13 giờ ngày 26/01/2022, ôngL đi cùng anh Thái Văn T, sinh năm: 1990 ngụ xã Thái Bình, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau; anh Bùi Ngọc T, sinh năm: 1996 ngụ ấp 6, xã Tân Thành, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước; anh Vòng Nhục Q, sinh năm: 1991 ngụ ấp 3, xã Đồng Tâm, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước đi trên 02 xe ô tô biển số 93A-117.67 màu xanh và xe ô tô biển số 93A-139.98 màu đỏ đến trước của nhà bà S để tìm chị T đòi tiền nợ. C điện thoại cho T thông báo là nhóm người của anh L đã đến nhà của C để đòi nợ và kêu T lấy xe ô tô 16 chỗ biển số 70B-005.63 đang để tại nhà bạn của C, để chở nhóm bạn của T cầm theo hung khí đến đánh hăm dọa nhóm người của ôngL; T điện thoại rủ Hòa, Hết, Mạnh, Tr, K, D, K, Nguyễn Phi H, sinh ngày 11/02/2006 cùng đi. T điều khiển xe ô tô 16 chỗ biển số 70B-005.63 đến nhà trọ của Mạnh lấy 03 cây rựa, 03 đoạn tuýp sắt dài khoảng 1,5m, đường kính khoảng 03 cm, 03 đoạn cây tầm vông khô để làm công cụ đánh nhau. Tr điện thoại cho H thông báo cho H biết, H rủ thêm nhóm bạn của H gồm: Nguyễn Minh T, Huỳnh Hữu Lộc, Nguyễn D Th, Bạch Ngọc Thắng, Phạm Văn H, Nguyễn Hoài T1, Nguyễn Tuấn A, Hoàng Minh P, Lê Hoàng D, Nguyễn Nhật T2 để cùng tham gia; H kêu Th, Lộc vào chợ mua 04 cây rựa, T về nhà lấy 04 cây rựa bỏ vào bao diêm đưa cho Thắng chở H cả nhóm điều khiển 04 xe mô tô đi đến nhà bà S để đánh nhau.
Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, tại nhà của bà S có C đang đứng ở thềm ba trước nhà đợi, thì nhóm bạn của T đến, khoảng 05 phút sau nhóm bạn của H đến. Lúc này, C chỉ cho H biết nhóm của ông L đang đứng trước cửa nhà, H đi ra nói chuyện với ôngL thì xảy ra mâu thuẫn, H hô “Chơi nó tụi bây”, thì nhóm của H gồm: H, D, P, T, T1, Tuấn A, Tr, Th mỗi người cầm một cây rựa, còn H, Thắng mỗi người nhặt đá; nhóm của T gồm: T, Hết, Mạnh, D mỗi người cầm cây rựa, còn Tr, K mỗi người cầm cây tầm vông, riêng Hòa định lấy hung khí nhưng không còn nên dùng tay không cùng nhau đuổi đánh nhóm của ôngL. Trong lúc đánh nhau, H cầm đá ném vào cửa kính phía sau, K cầm cây tầm vông đập vào đuôi và cửa kính sau, T1, Tr, H cầm rựa chém nhiều nhát vào xe ô tô biển số 93A-139.98 màu đỏ gây hư hỏng; Tuấn A, P cầm rựa chém nhiều nhát vào xe ô tô biển số 93A-117.67 màu xanh gây hư hỏng. Trong lúc đuổi đánh nhau, ôngL bỏ chạy thì bị H cầm rựa chém trúng khuỷu tay phải gây thương tích. Thấy vậy, C chạy đến can ngăn và kêu cả nhóm giải tán thì tất cả bỏ về.
Tại Cơ quan điều tra Phan Khắc C, Cao Minh T, Trần Trung Tr, Lê Hoàng D, Nguyễn Minh T, Nguyễn D Th, Bạch Ngọc Thắng, Phạm Quốc Hoà, Hoàng Minh P, Phạm Văn H, Nguyễn Hoài T1, Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Nhật T2, Trần Trí K đã thành khẩn khai nhận rõ hành vi phạm tội.
Đối với Trần Trung H, Nguyễn Văn Hết, Hoàng Quốc Mạnh, Huỳnh Hữu Lộc, Lê Trọng Minh Khang, Lê Đức D sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã bỏ trốn khỏi địa P.
Kết luận giám định pháp y về thương tích số 51/2022/TgT ngày 28/02/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Tây Ninh, kết luận: Tỷ lệ tổn thương trên cơ thể của Trần Văn L do thương tích gây nên hiện tại là 08%.
Kết luận định giá số 06/KL-HĐĐG ngày 28/02/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Tân Châu, kết luận đối với phụ tùng hư hỏng bị thiệt hại của xe ô tô biển số 93A-139.98 nhãn hiệu Mazda, số loại 6 2.0G AT GL2 là 38.804.000 đồng và xe ô tô biển số 93A-117.67 nhãn hiệu Mazda, số loại 3 1.5G AT SD FL là 45.741.000 đồng, tổng cộng 84.545.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 54/CT-VKSTC ngày 10/6/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Phan Khắc C về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại các điểm a, h khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự; các bị cáo Cao Minh T, Trần Trung Tr, Lê Hoàng D, Nguyễn Minh T, Nguyễn D Th, Bạch Ngọc Thắng, Phạm Quốc Hoà về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại các điểm a, h, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự; các bị cáo Hoàng Minh P, Phạm Văn H, Nguyễn Hoài T1, Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Nhật T2, Trần Trí K về tội “Cố ý gây thương tích và Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại các điểm a, h, i khoản 1 Điều 134 và điểm b khoản 2 Điều 178 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Đơn xin rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của bị hạiL ngày 22/6/2022 để đình chỉ vụ án đối với tất cả các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích”; tuyên bố các bị cáo Hoàng Minh P, Phạm Văn H, Nguyễn Hoài Thương, Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Nhật T2, Trần Trí K phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
- Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 178; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt các bị cáo P, H, T1, Tuấn A, Tr mỗi bị cáo từ 24 tháng đến 30 tháng tù.
- Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 178; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo K từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù.
- Về bồi thường thiệt hại: Ghi nhận ông L, anh T đã nhận đủ tiền bồi thường thiệt hại và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý những vật chứng thu giữ theo quy định của pháp luật.
Bà Quyên trình bày lời bào chữa cho bị cáo K:
Bà thống nhất với đề nghị của vị Kiểm sát viên về việc đình chỉ giải quyết vụ án đối với bị cáo K về tội “Cố ý gây thương tích”. Bà thống nhất với quan điểm truy tố bị cáo K về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội khi mới hơn 16 tuổi, việc nhận thức và làm chủ hành vi không được như người đã thành niên. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động gia đình bồi thường số tiền 10.000.000 đồng; phạm tội do bị người khác xúi giục, rủ rê; có hoàn cảnh gia đình khó khăn do cha mất sớm. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 178; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù.
Các bị cáo, bà H, ông Đ, ông D, anh N, ông D không tranh luận.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Bị cáo C đã biết lỗi; các bị cáo P, Tuấn A, T1, Tr, K xin giảm nhẹ hình phạt; các bị cáo còn lại không nói lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ vào đơn xin rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đề ngày 22/6/2022 của bị hại Trần Văn L xin rút lại yêu cầu khởi tố đối với tất cả các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích”. Trong đơn bị hạiL xác định việc rút yêu cầu khởi tố của mình là hoàn tự nguyện, không bị đe dọa, ép buộc. Tại phiên tòa, vị Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ vụ án đối với tất cả các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích”. Xét thấy, trong vụ án này, đối với tội “Cố ý gây thương tích” thì được khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại. Bị hạiL đã rút yêu cầu khởi tố vụ án đối với tội này là tự nguyện, không bị đe dọa, ép buộc và đề nghị của vị Kiểm sát viên là có căn cứ. Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 155 của Bộ luật tố tụng hình sự đình chỉ vụ án đối với tất cả các bị cáo trong vụ án này về tội “Cố ý gây thương tích”.
Tại phiên tòa, các bị cáo Hoàng Minh P, Phạm Văn H, Nguyễn Hoài T1, Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Nhật T2, Trần Trí K đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo này phù hợp với các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, đã có đủ căn cứ xác định: Vào khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 26/01/2022, tại ấp Hội Thạnh, xã Tân Hội, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, các bị cáo chỉ được bị cáo T và đối tượng Trần Trung H nhờ vả, xúi giục đi đánh nhau với các bị hại. Tuy nhiên, trong lúc rược đuổi để đánh các bị hại thì bị cáo H tự ý cầm đá ném vào cửa kính phía sau, bị cáo K tự ý cầm cây tầm vông đập vào đuôi và cửa kính sau, các bị cáo T1, Tr tự ý cầm rựa chém nhiều nhát vào xe ô tô biển số 93A-139.98 màu đỏ của anh Tuấn làm hư hỏng. Các bị cáo Tuấn A, P tự ý cầm rựa chém nhiều nhát vào xe ô tô biển số 93A-117.67 màu xanh của anh Tuấn làm hư hỏng. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 84.545.000 đồng. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Hoàng Minh P, Phạm Văn H, Nguyễn Hoài T1, Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Nhật T2, Trần Trí K phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 178 của Bộ luật Hình sự như luận tội của vị Kiểm sát viên tại phiên tòa.
Vụ án có tính chất nghiêm trọng; hành vi của các bị cáo Hoàng Minh P, Phạm Văn H, Nguyễn Hoài T1, Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Nhật T2, Trần Trí K là nguy hiểm cho xã hội, đã Tr tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa P. Khi thực hiện tội phạm, các bị cáo biết rõ việc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do chính hành vi của mình gây ra và cần xử lý nghiêm.
Trong vụ án này các bị cáo Hoàng Minh P, Phạm Văn H, Nguyễn Hoài T1, Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Nhật T2, Trần Trí K phạm tội trong Tr hợp đồng phạm giản đơn, không có sự câu kết chặt chẽ, tính chất hành vi phạm tội giống nhau, mức độ gây thiệt hại đối với tài sản của bị hại ngang nhau. Tuy nhiên, các bị cáo H, T1, Tr có nhân thân xấu nên chịu trách nhiệm cao hơn các bị cáo còn lại; các bị cáo P, Tuấn A có nhân thân tốt nên chịu trách nhiệm hình sự thấp hơn các bị cáo trên; bị cáo K có nhân thân tốt, phạm tội khi chưa thành niên nên chịu trách nhiệm hình sự thấp nhất.
Khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Hoàng Minh P, Phạm Văn H, Nguyễn Hoài T1, Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Nhật T2, Trần Trí K đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại Tuấn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; bị cáo T1 có ông, bà Nội là người có công với cách mạng nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Hoàng Minh P, Phạm Văn H, Nguyễn Hoài T1, Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Nhật T2, Trần Trí K đều phạm tội có tính chất côn đồ theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Xét thấy, với hành vi phạm tội của các bị cáo Hoàng Minh P, Phạm Văn H, Nguyễn Hoài T1, Nguyễn Nhật T2, Nguyễn Tuấn A, Trần Trí K cần xử phạt tù nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa C. Riêng bị cáo K phạm tội khi chưa thành niên, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của bộ luật Hình sự, có đủ điều kiện áp dụng các Điều 54, 90, 91, 101 của Bộ luật Hình sự khi xem xét quyết định hình phạt cho bị cáo.
Lời bào chữa của người bào chữa cho bị cáo K mà không phù hợp với các nhận định trên thì không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự:
Ông Dự là cha của bị cáo D đã tự nguyện bồi thường cho ôngL số tiền 120.000.000 đồng, ôngL không yêu cầu bồi thường gì thêm cần ghi nhận.
Anh Nhựt là người thân của bị cáo C đã tự nguyện bồi thường cho anh Tuấn số tiền 200.000.000 đồng, anh Tuấn không yêu cầu bồi thường gì thêm cần ghi nhận.
Số tiền 200.000.000 đồng do ông Điền là em bị cáo C tự nguyện nộp thay cho bị cáo C để khắc phục hậu quả của vụ án nhưng ngày 22/6/2022 ông Dự, anh Nhựt đã bồi thường xong cho các bị hại, các bị hại không yêu cầu bồi thường thêm nên trả lại số tiền trên cho ông Điền là phù hợp.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 cây rựa dài 96 cm, cán gỗ dài 66 cm, phần lưỡi dài 30 cm, có chỗ rộng nhất 08 cm; 01 cây rựa dài 103 cm, cán gỗ dài 73 cm, phần lưỡi dài 30 cm, có chỗ rộng nhất 08 cm; 01 cây rựa dài 110 cm, cán gỗ dài 80 cm, phần lưỡi dài 30 cm, có chỗ rộng nhất 08 cm; 01 cây rựa dài 108 cm, cán gỗ dài 79 cm, phần lưỡi dài 28 cm, có chỗ rộng nhất 08 cm là hung khí gây án và vật dụng không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 Camera hành trình có dòng chữ 70mai, bên trong có thẻ nhớ số seri 96N0209 thu giữ của anh Tuấn không liên quan đến tội phạm cần trả lại cho anh Tuấn là phù hợp.
Đối với 01 ô tô nhãn hiệu Ford Transit loại 16 chỗ, biển số 70B-005.63 thu giữ của ông Dũng, khi bị cáo C kêu bị cáo T lấy xe đi thực hiện hành vi phạm tội thì ông Dũng không biết nên trả cho ông Dũng là phù hợp.
Đối với Trần Trung H, Nguyễn Văn Hết, Hoàng Quốc Mạnh, Lê Trọng Minh Khang, Lê Đức D, Huỳnh Hữu Lộc sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã bỏ trốn, Cơ quan điều tra đã tách vụ án đối với hành vi của H, Hết, Mạnh, Khang, Đức D, Lộc, khi nào bắt được xử lý sau.
Đối với Nguyễn Phi Hùng, sinh ngày 11/02/2006 có hành vi tham gia cố ý gây thương tích nhưng khi phạm tội, Hùng được 15 tuổi 11 tháng 16 ngày, chưa đủ 16 tuổi nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, Cơ quan điều tra chuyển cho Công an huyện Tân Châu xử phạt hành chính là đúng quy định của pháp luật.
Về án phí: Các bị cáo Hoàng Minh P, Phạm Văn H, Nguyễn Hoài T1, Nguyễn Nhật T2, Nguyễn Tuấn A, Trần Trí K và ôngL phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 178; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Hoàng Minh P 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý làm hƣ hỏng tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/3/2022.
- Xử phạt bị cáo Phạm Văn H (Chim) 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý làm hƣ hỏng tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/3/2022.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài T1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý làm hƣ hỏng tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/3/2022.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý làm hƣ hỏng tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/3/2022.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật T2 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý làm hƣ hỏng tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/3/2022.
2. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 178; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 90; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Trí K 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Cố ý làm hƣ hỏng tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/4/2022.
3. Căn cứ khoản 2 Điều 155 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Đình chỉ giải quyết vụ án về tội “Cố ý gây thương tích” đối với các bị cáo Phan Khắc C, Cao Minh T (Bầu), Trần Trung Tr, Lê Hoàng D, Nguyễn Minh T, Nguyễn D Th, Bạch Ngọc Thắng, Phạm Quốc Hoà, Hoàng Minh P, Phạm Văn H (Chim), Nguyễn Hoài T1, Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Nhật T2, Trần Trí K.
4. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào các Điều 589, 590 của Bộ luật Dân sự 2015:
4.1. Ghi nhận ông Lê Văn Dự là cha của bị cáo Lê Hoàng D đã bồi thường cho ông Trần Văn L số tiền 120.000.000 (một trăm hai mươi triệu) đồng và ông Trần Văn L không yêu cầu bồi thường gì thêm.
4.2. Ghi nhận anh Trần Minh Nhựt là người thân của bị cáo Phan Khắc C đã bồi thường cho anh Bùi Ngọc Tuấn số tiền 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng và anh Bùi Ngọc Tuấn không yêu cầu bồi thường gì thêm.
4.3. Trả lại cho ông Phan Khắc Điền số tiền 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng đã nộp để khắc phục hậu quả cho bị cáo Phan Khắc C (Số tiền này đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/6/2022).
5. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
5.1. Tịch thu tiêu hủy: 01 cây rựa dài 96 cm, cán gỗ dài 66 cm, phần lưỡi dài 30 cm, có chỗ rộng nhất 08 cm; 01 cây rựa dài 103 cm, cán gỗ dài 73 cm, phần lưỡi dài 30 cm, có chỗ rộng nhất 08 cm; 01 cây rựa dài 110 cm, cán gỗ dài 80 cm, phần lưỡi dài 30 cm, có chỗ rộng nhất 08 cm; 01 cây rựa dài 108 cm, cán gỗ dài 79 cm, phần lưỡi dài 28 cm, có chỗ rộng nhất 08 cm.
5.2. Trả cho anh Bùi Ngọc Tuấn 01 Camera hành trình có dòng chữ 70mai, bên trong có thẻ nhớ số seri 96N0209.
5.3. Trả lại cho ông Trần Quang D 01 ô tô nhãn hiệu Ford Transit loại 16 chỗ, biển số 70B-005.63.
(Vật chứng đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/6/2022).
6. Về án phí: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo Hoàng Minh P, Phạm Văn H (Chim), Nguyễn Hoài T1, Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Nhật T2, Trần Trí K mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm. Ông Trần Văn L phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
8. Về quyền kháng cáo: Báo cho các bị cáo, bà Quyên, bà H, ông Điền, ông Dự, anh Nhựt, ông Dũng biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng các bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND H.Tân Châu; - CCTHA-DS H. Tân Châu; - CQĐT Công an H. Tân Châu; - Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh; - Công an tỉnh Tây Ninh – Phòng PV 06; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - THA phạt tù; - Lưu tập án, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Chung |