vanban.org

Bản án 61/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mường La, tỉnh Sơn La Tuyên án 08/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Lò Thi ̣ N phạm tội “Lừ a đảo chiếm đoa ̣t tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lò Thi ̣ N 07 (bảy) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, ta ̣m giam (ngày 18/01/2022). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án số 61 ngày 08.6.2022 Lò Thị N phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Lò Thi ̣ N phạm tội “Lừ a đảo chiếm đoa ̣t tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ML
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2022/HS-ST
Ngày 08-6-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ML, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thu Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Khe ̣t và bà Nguyễn Thi ̣ Hương.

- Thư ký phiên toà: Ông Đào Ngo ̣c Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện ML, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ML tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chi Công - Kiểm sát viên.́

Ngày 08 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện ML, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 63/2022/TLST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2022/ QĐXXST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Thi ̣ N, sinh ngày 07/10/1998, tại IO, ML, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Tiểu khu IB, thi ̣ trấn IO, huyê ̣n ML, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Không; Con ông Lò Văn T, sinh năm 1979 và con bà Lườ ng Thi ̣ X, sinh năm 1976; có chồng là Cao Văn Đ, sinh năm 1991; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa có án tích hoặc xử lý, xử phạt vi phạm hành chính khác; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/01/2022; Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Bi ̣ hại: Quàng Văn O, sinh năm 1937. Đi ̣a chi: Tiểu khu 5, thi ̣̉

trấn IO, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Có mă ̣t.

Người có quyền lợi nghia vụ liên quan: Lò Văn T. Sinh năm 1996. Đi ̣a

̃ chỉ: Bản NN, thi ̣ trấn IO, huyê ̣n ML, tinh Sơn La. Cỏ

́ đề nghi ̣ xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bi ̣ cáo Lò Thi ̣ N bi ̣ Viê ̣n kiểm sát nhân dân huyê ̣n ML truy tố về hành vi pha ̣m tô ̣i như sau:

Khoảng giữa tháng 11/2021 Lò Thi ̣ N đến mô ̣t số quán karaoke trên đi ̣a bàn tiểu khu 5, thi ̣ trấn IO, huyê ̣n ML để tìm viê ̣c làm, đồng thờ i hỏi tìm phòng tro ̣ để thuê. N được mo ̣i ngườ i giớ i thiê ̣u khu nhà tro ̣ của ông Quàng Văn O tại tiểu khu 5, thi ̣ trấn IO. Khi đó, N cũng nghe được thông tin ông O tuổi tác đã cao, trí nhớ không tốt nên rất dễ bị lừa. Ngay sau đó, N đã tìm đến phòng trọ nhà ông O để thuê một phòng ở, lúc này N giới thiệu mình tên là T nhà ở MG, QN và nói thêm rằng chiều sẽ có em gái xuống ở cùng. Sau đó, N đi xe buýt ra ngoài thành phố SL, đến chiều cùng ngày N quay lại khu nhà trọ ông O ở và giới thiệu mình tên là H nhà ở MG, QN là em gái T đến thuê trọ lúc sáng (do ông O trí nhớ không tốt nên không nghi ngờ và tin là có hai chị em là T và H đến thuê trọ). Sau khi N ở trọ được khoảng 02 ngày thì lại nghe được người xung quanh nói ông O rất dễ bị lừa nên N đã nghĩ ra chuyện xin nhận làm con nuôi của ông O và đóng giả là mẹ của T và H để gọi điện cho ông O nói rằng, T đã bị tai nạn chết khi trên đường ra thành phố SL, tâm thư T để la ̣i là muốn ông O nhận H (tứ c N) làm con nuôi. Nghe vậy, ông O liền đồng ý nhận N làm con nuôi. Sau đó N nói với ông O về việc muốn xin tiền của ông O để làm thủ tục cắt hộ khẩu về nhà ông O. Ông O đồng ý và gom tiền và đưa cho N thành nhiều lần khác nhau: Lần thứ nhất 3.200.000 đồng; Lần thứ hai 1.500.000 đồng; Lần thứ ba 1.000.000 đồng; Lần thứ 4, do không còn tiền nên ông O đã đưa cho N 01 chiếc điện thoại di động và bảo N đem đi cắm lấy tiền để làm nốt thủ tục cắt hộ khẩu. Sau khi nhận điện thoại N đã đem đi bán tại quán của Lò Văn T tại bản NN, thị trấn IO được số tiền là 1.500.000 đồng. Sau đó, ông O tiếp tục đưa cho N số tiền 1.600.000 đồng để đi chuộc chiếc điện thoại mà ông O đã đưa cho N đi cắm. N cầm tiền rồi bỏ ra ngoài thành phố SL để làm việc. Ngày 24/12/2021 ông O làm đơn trinh bà

́o sự viê ̣c vớ i công an thi ̣ trấn IO.

Thực hiê ̣n điều tra xác minh Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyê ̣n ML thu giữ:

- 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu đỏ đen, BKS 26L5-3499, số khung: 007606, số máy: 007606 (xe cũ đã qua sử dụng).

- 01 điện thoại di động, nhãn hiệu ITEL, màu đen, có phím số và chữ màu trắng, có số imel1: 358408131011961, số imel2: 358408131011879 (điện thoại cũ đã qua sử dụng).

Ngày 30/12/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ML đã ra yêu cầu định giá tài sản số 38 đối với 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu đỏ đen, BKS 26L5-3499, số khung: 007606, số máy: 007606 (xe cũ đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Vsmart Star 5, màu đen (điện thoại cũ đã qua sử dụng). Ta ̣i Kết luâ ̣n đi ̣nh giá tài sản số 38 ngày 30/12/2021 đa kết luâ ̣̃

n: 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu đỏ đen, BKS 26L5-3499, số khung: 007606, số máy: 007606 (xe cũ đã qua sử dụng) có giá tri ̣ là 5.000.000 đồng; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Vsmart Star 5, màu đen (điện thoại cũ đã qua sử dụng) có giá tri ̣ là 1.500.000 đồng.

Mở rô ̣ng điều tra đối vớ i Quàng Thị T, sinh năm 1997, trú tại bản HH, xã MB, huyện ML, tỉnh Sơn La. Theo lời khai ban đầu của Lò Thị N là người đã cùng N lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Quàng Văn O. Tuy nhiên quá trình làm việc, tiến hành đối chất, Lò Thị N thừa nhận việc đưa ra thông tin có liên quan đến Quàng Thị T là gian dối, thực chất viê ̣c lừ a đảo chiếm đoa ̣t tài sản chỉ một mình Lò Thị N thực hiện. Do đó, Quàng Thị T không liên quan đến vụ án này.

Đối với Lò Văn T là người nhận mua 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Vsmart Star 5, màu đen (điện thoại cũ đã qua sử dụng) từ Lò Thị N. Quá trình điều tra xác định, Lò Văn T không biết nguồn gốc của chiếc điện thoại mà N đem bán là tài sản do phạm tội mà có. Sau khi mua được điê ̣n thoa ̣i từ Lò Thi ̣ N, Lò Văn T đa bã ́n la ̣i cho khách mua hàng (không xác minh được tên, tuổi, đi ̣a chỉ). Do đó, hành vi của Lò Văn Th không cấu thành tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo quy định tại Điều 323 Bộ luật hình sự, và cũng không thu hồi la ̣i được chiếc điê ̣n thoa ̣i trên.

Đối với 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu đỏ đen, BKS 26L5-3499, số khung: 007606, số máy: 007606 (xe cũ đã qua sử dụng). Quá trinh điều tra và

̀ ta ̣i phiên tòa xác đi ̣nh, ông O mua chiếc xe trên theo hinh̀ thứ c trả góp, giấy tờ mua bán đứ ng tên Quàng Văn O, ông O có đưa xe cho Lò Thi ̣ N sử du ̣ng, không he ̣n ngày trả la ̣i. Do đó xác đi ̣nh chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe là ông Quàng Văn O, sinh năm 1937, trú tại tiểu khu 5, thị trấn IO, huyện ML, tỉnh Sơn La. Ngày 14/3/2022, Quàng Văn O có đơn xin lại tài sản. Xét thấy việc trả lại tài sản không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên ngày 15/3/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ML đã hoàn trả lại chiếc xe trên cho chủ sở hữu Quàng Văn O là có căn cứ và đúng theo quy định.

Quá trinh điều tra và

̀ ta ̣i phiên tòa, bi ̣ cáo, bi ̣ ha ̣i, ngườ i có quyền lợi nghĩa vu ̣ liên quan không có ý kiến hay khiếu na ̣i gi, nhầ

́t tri vớ ́ i kết luâ ̣n của Hội đồng đi ̣nh giá.

Bi ̣ ha ̣i đề nghi ̣ bi ̣ cáo bồi thườ ng số tiền 7.300.000 đồng. Đối vớ i chiếc điê ̣n thoa ̣i di động, nhãn hiệu Vsmart Star 5, màu đen (điện thoại cũ đã qua sử dụng) bi ̣ ha ̣i không yêu cầu bi ̣ cáo bồi thườ ng.

Bản cáo trạng số 34/CT-VKS-ML ngày 28/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện ML truy tố bị cáo Lò Thi ̣ N về tội “ Lừ a đảo chiếm đoa ̣t tài sản”, theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lò Thi ̣ N đủ yếu tố cấu thành tội “Lừ a đảo chiếm đoa ̣t tài sản”. Tuy nhiên đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát rút đề nghi ̣ truy tố đối với hành vi lừ a đảo chiếm đoa ̣t chiếc xe mô tô, nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu đỏ đen, BKS 26L5-3499, số khung: 007606, số máy: 007606 (xe cũ đã qua sử dụng).

Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lò Thi ̣ N phạm tội “Lừ a đảo chiếm đoa ̣t tài sản”. Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự: Xử phạt Lò Thi ̣ N từ 09 tháng đến 12 tháng tù giam; Không áp dụng hình phạt bổ sung - phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo không có tài sản.

Đối với vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47, khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

Chấp nhâ ̣n viê ̣c Cơ quan điều tra đã trả la ̣i cho bi ̣ ha ̣i Quàng Văn O 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu đỏ đen, BKS 26L5-3499, số khung: 007606, số máy: 007606 (xe cũ đã qua sử dụng).

Đề nghi ̣ ti ̣ch thu nô ̣p ngân sách Nhà nướ c 01 điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu ITEL, loa ̣i bàn phim, trên phím có

́ số và chữ màu trắng (không kiểm tra máy móc bên trong, điện thoại cũ đã qua sử dụng).

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và ta ̣i phiên tòa ngườ i bi ̣ ha ̣i Quàng Văn O yêu cầu bi ̣ cáo Lò Thi ̣ N bồi thườ ng số tiền bi ̣ cáo đa chiếm đoạt̃ là 7.300.000 đồng, đề nghi ̣ chấp nhâ ̣n. Ta ̣i đơn đề nghi ̣ xét xử vắng mă ̣t ngườ i có quyền lợi nghia vu ̣̃

liên quan Lò Văn T không có yêu cầu, đề nghi ̣ gi.̀

Về án phi: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;́ điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án: Đề nghi ̣ buô ̣c bi ̣ cáo phải chi ̣u tiền án phí sơ thẩm theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t;

Bi ̣ cáo Lò Thi ̣ N nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luâ ̣n.

Ngườ i bi ̣ ha ̣i Quàng Văn O nhất tri với quyết định truy tố của Viện kiểḿ sát và xin giảm nhe ̣ hình pha ̣t cho bi ̣ cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện ML; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện ML; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, ngườ i bi ̣ ha ̣i, ngườ i có quyền lợi nghia vụ̃

liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tố tụng: Ngườ i có quyền lợi nghia vu ̣̃

liên quan Lò Văn T vắng mặt nhưng đa cõ ́ lời khai có trong hồ sơ và được công bố ta ̣i phiên tòa, có đề nghi ̣ xử vắng mă ̣t, việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quyết định xét xử vắng mặt ngườ i có quyền lợi nghia vu ̣̃

liên quan.

Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Lò Thi ̣ N thừa nhận: Trong tháng 11 năm 2021, Lò Thị N đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt của ông Quàng Văn O các tài sản sau: 01 chiếc điện thoại di động trị giá 1.500.000 đồng; tiền mặt 7.300.000 đồng.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên rút đề nghi ̣ truy tố bi ̣ cáo Lò Thi ̣ N đối vớ i hành vi lừ a đảo chiếm đoa ̣t 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu đỏ đen, BKS 26L5-3499, số khung: 007606, số máy: 007606 (xe cũ đã qua sử dụng) là phù hợp vớ i lờ i khai của bi ̣ cáo, bi ̣ ha ̣i, phù hợp vớ i kết quả thẩm vấn, tranh tu ̣ng ta ̣i phiên tòa. Đối vớ i chiếc xe mô tô trên được ông O mua theo hinh thừ

́ c trả góp, giấy tờ mua bán đứ ng tên bi ̣ ha ̣i Quàng Văn O, ông O đã giao cho bi ̣ cáo N sử du ̣ng, không he ̣n ngày trả la ̣i, N đa sữ ̉ du ̣ng làm phương tiê ̣n đi la ̣i hàng ngày, không có mu ̣c đich chiếm đoa ̣́

t (bán, cầm cố...) chiếc xe, do đó đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát rút truy tố đề nghi ̣ đối vớ i hành vi sử du ̣ng chiếc xe trên là có căn cứ chấp nhâ ̣n.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Đơn trình báo, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản sự việc, vật chứng thu giữ.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Hành vi dùng thủ đoa ̣n gian dối chiếm đoa ̣t tài sản tri ̣ giá 8.800.000 đồng của bi ̣ cáo Lò Thi ̣ N đã phạm vào tội Lừ a đảo chiếm đoa ̣t tài sản, được quy định tại Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, nhưng do lườ i lao đô ̣ng, hám lời bất chính nên bị cáo đã thực hiện tội phạm vớ i lỗi cố ý. Hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo tuy thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng đã xâm pha ̣m đến lợi ich hợ́

p pháp của công dân, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội ở địa phương, gây bất bình, hoang mang trong quần chúng.

Về tình tiết tăng nặng, tinh tiết già

̉m nhe ̣ trách nhiê ̣m hình sự:

Về tình tiết tăng nặng:

Bi ̣ cáo thực hiê ̣n hành vi lừ a đảo chiếm đoa ̣t tài sản của bi ̣ ha ̣i Quàng Văn O sinh ngày 07/5/1937, đến thờ i điểm xét xử sơ thẩm (ngày 08/6/2022) bi ̣ ha ̣i 85 tuổi 01 tháng 01 ngày nên bi ̣ cáo phải chi ̣u tinh tiết tăng nă ̣ng trách nhiê ̣m hinh

̀

̀ sự theo điểm i khoản 1 Điều 52 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự̀

2015 “pha ̣m tô ̣i đối vớ i ngườ i đủ 70 tuổi trở lên”.

Viê ̣c bi ̣ ha ̣i cho bi ̣ cáo mượn sử du ̣ng xe không đủ yếu tố cấu thành tội Lừ a đảo chiếm đoa ̣t tài sản nên bi ̣ cáo không phải chi ̣u tình tiết tăng nă ̣ng “pha ̣m tô ̣i 02 lần trở lên”.

Về tình tiết giảm nhẹ: Hô ̣i đồng xét xử cần xem xét chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, vì sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do ta ̣i phiên tòa ngườ i bi ̣ ha ̣i có đề nghi ̣ giảm nhe ̣ hinh pha ̣̀

t đối vớ i bi ̣ cáo nên bi ̣ cáo được hưở ng thêm tình tiết giảm nhe ̣ quy đi ̣nh ta ̣i khoản 2 Điều 51 Bô ̣ luâ ̣t Hình sự.

Về hình phạt

Về hình phạt chính: Tòa cần xem xét cân nhắc xử phạt bị cáo mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo. Việc cách ly bị cáo một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có thể đảm bảo được điều kiện và thời gian để bị cáo cải tạo, giáo dục trở thành người tốt có ích cho xã hội và gia đình, đồng thời nhằm răn đe phòng ngừa giáo dục chung.

Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 174 Bô ̣ luâ ̣t Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế, thu nhập không ổn định, tài sản không có gì giá trị lớn, bị cáo không có khả năng thi hành, Toà cần xem xét chấp nhận lờ i tự bào chữa của bi ̣ cáo Lò Thi ̣ N không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

01 điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu ITEL, loa ̣i bàn phím, trên phím có số và chữ màu trắng (không kiểm tra máy móc bên trong, điện thoại cũ đã qua sử dụng). Là tài sản của bi ̣ cáo, bi ̣ cáo Lò Thi ̣ N sử du ̣ng vào viê ̣c pha ̣m tô ̣i, nên cần ti ̣ch thu nô ̣p ngân sách Nhà nướ c.

Đối vớ i 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu đỏ đen, BKS 26L5-3499, số khung: 007606, số máy: 007606 (xe cũ đã qua sử dụng): Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ML đã hoàn trả lại chiếc xe trên cho chủ sở hữu Quàng Văn O là có căn cứ, đúng quy định của pháp luâ ̣t.

Đối vớ i 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Vsmart Star 5, màu đen (điện thoại cũ đã qua sử dụng), do Lò Thi ̣ N đa mang bã

́n cho Lò Văn T, sau đo T đã bán la ̣i cho khách mua hàng (không xác minh được tên, tuổi, đi ̣a chi), không thủ hồi la ̣i được chiếc điê ̣n thoa ̣i trên nên không có căn cứ xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Quàng Văn O yêu cầu bi ̣ cáo bồi thườ ng số tiền 7.300.000 đồng; đối vớ i chiếc điê ̣n thoa ̣i di động, nhãn hiệu Vsmart Star 5, màu đen (điện thoại cũ đã qua sử dụng) bi ̣ ha ̣i không yêu cầu bi ̣ cáo bồi thườ ng. Lò Thi ̣ N đa dũ ̀ng thủ đoa ̣n gian dối chiếm đoa ̣t số tiền 7.300.000 đồng, lỗi hoàn toàn thuô ̣c về bi ̣ cáo Lò Thi ̣ N, vì vâ ̣y cần chấp nhâ ̣n yêu cầu của ông Quàng Văn O.

Về án phi: Bi ̣́

cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm i khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015:

Tuyên bố: bị cáo Lò Thi ̣ N phạm tội “Lừ a đảo chiếm đoa ̣t tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Lò Thi ̣ N 07 (bảy) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, ta ̣m giam (ngày 18/01/2022).

- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

Tuyên ti ̣ch thu nô ̣p ngân sách Nhà nướ c 01 điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu ITEL, loa ̣i bàn phim, trên phím có

́ số và chữ màu trắng (không kiểm tra máy móc bên trong, điện thoại cũ đã qua sử dụng).

(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/4/2022 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Mường La và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường La).

3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 357, 584, 585, 589 Bô ̣ luâ ̣t Dân sự: Buô ̣c bi ̣ cáo có trách nhiê ̣m bồi thườ ng cho ngườ i bi ̣ ha ̣i Quàng Văn O số tiền 7.300.000 đồng (Bảy triê ̣u ba trăm nghin đồ

̀ng).

“Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ngườ i được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chi ̣u khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mứ c lãi suất quy đi ̣nh ta ̣i khoản 2 Điều 468 của Bô ̣ luâ ̣t Dân sự năm 2015 tương ứ ng vớ i thời gian chưa thi hành án”.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo phải nô ̣p 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 365.000 đồng (Ba trăm sáu mươi năm nghin đồng) án phi dân sự sơ thẩm. Tổng cô ̣ng là 565.000 (Năm trăm

̀

́ sáu mươi năm nghin đồ

̀ng).

Bị cáo, bi ̣ ha ̣i có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 08/6/2022. Ngườ i có quyền lợi nghia vu ̣̃

liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

“Trườ ng hợp bản á n, quyết đi ̣nh được thi hà nh theo quy đi ̣nh tại Điều 2 Luật Thi hà nh á n dân sự thi ngườ i được thi hà nh á n dân sự, ngườ i phải thi hà nh

̀ á n dân sự có quyền thỏa thuận thi hà nh á n, quyền yêu cầu thi hà nh á n, tự nguyện thi hà nh á n hoặc bi ̣ cưỡng chế thi hà nh á n tại cá c Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hà nh á n dân sự. Thờ i hiê ̣u thi hà nh á n được tinh theo quy đi ̣nh tại Điều

́ 30 Luật Thi hà nh á n dân sự”.

Cỡ chữ