- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tiến D- Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến D phạm tội “Cố ý gây thương tích”, xử phạt Nguyễn Tiến D 12 (Mười hai) tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Thông tư số 22/2019/TT-BYT quy định tỷ lệ phần trăm tổn thươ…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2022/HS-PT Ngày: 25 - 11- 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hùng.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đức Thủy và Bà Nguyễn Thị Mai Hương.
Thư ký phiên toà: Ông Trần Công Đoàn - Thẩm tra viên chính Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 81/2022/HS-PT ngày 31 tháng 10 năm 2022, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến D đối với bản án hình sự sơ thẩm số 62/2022/HS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 81A/2022/QĐXXPT-HS ngày 10 tháng 11 năm 2022, đối với:
* Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Tiến D, sinh năm 1987 tại Hà Nam; Nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Quốc T và bà Bùi Thị T; Vợ là Đào Thị Th (đã ly hôn) và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 29/12/2010, Chủ tịch UBND huyện T, tỉnh Hà Nam ra quyết định đưa người nghiện ma túy vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc trong thời hạn 24 tháng. Bị cáo được áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
* Bị hại không kháng cáo: Anh Đào Quang Th, sinh năm 1992; nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; có mặt.
* Người làm chứng: Anh Trần Văn T, sinh năm 1984 và anh Phạm Văn C, sinh năm 1989; đều có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 20 phút ngày 11/01/2022, nghe thấy bên nhà Nguyễn Tiến D có tiếng đập phá nên anh Đào Quang Th (là em vợ, đã ly hôn của Nguyễn Tiến D) nhà ở sát cạnh bên đi bộ một mình sang nhà Nguyễn Tiến D để nói chuyện thì giữa Nguyễn Tiến D và anh Đào Quang Th xảy ra cãi chửi rồi giằng co, dùng tay, chân đánh nhau. Lúc này, tại nhà Đào Quang Th có anh Trần Văn T và anh Phạm Văn C đang ngồi chơi, nghe thấy tiếng ồn ào bên nhà Nguyễn Tiến D, nên vợ anh Đào Quang Th bảo anh T và anh C sang bên đó xem thế nào. Khi thấy Nguyễn Tiến D và anh Đào Quang Th đang đánh nhau, cả hai chạy vào can thì Nguyễn Tiến D chạy vào trong buồng ngủ lấy 01 con dao (dạng dao phay) cầm trên tay phải chạy ra ngoài phòng khách. Thấy vậy, anh T và anh Cbỏ chạy ra phía ngoài sân, Nguyễn Tiến D cầm dao đến chỗ anh Đào Quang Th đang đứng ở phòng khách, đứng đối diện cách anh Đào Quang Th khoảng 01m rồi dùng tay phải cầm dao chém 01 nhát từ trên xuống dưới về phía anh Đào Quang Th nhưng không trúng. Anh Đào Quang Th lùi lại phía sau, Nguyễn Tiến D tiếp tục vung dao chém 01 nhát hướng từ trên xuống dưới về phía anh Đào Quang Th, anh Đào Quang Th giơ tay phải lên đỡ thì bị Nguyễn Tiến D chém trúng vào cẳng tay phải. Lúc này anh Đào Quang Th hô “Các anh ơi, nó chém đứt tay em rồi”, nghe thấy vậy thì anh C và anh T lao vào can ngăn.
Cả ba giằng co với Nguyễn Tiến D, đẩy nhau về phía chiếu nghỉ cầu thang dẫn xuống nhà dưới, Nguyễn Tiến D tiếp tục dùng sống dao chém 01 nhát vào cẳng chân phải anh Đào Quang Th, anh T và anh C can ngăn, giằng dao trên tay Nguyễn Tiến D sau đó đưa anh Đào Quang Th đến bệnh viện và báo chính quyền địa phương. Hậu quả anh Đào Quang Th bị thương tích tại cẳng tay phải, gãy xương trụ phải, sưng nề mặt trước cẳng chân phải.
Công an xã Thanh Phong, huyện Thanh Liêm đến hiện trường, lập biên bản và thu giữ vật chứng gồm: 01 con dao bằng kim loại, kích thước (36x8,5) cm, lưỡi dao kích thước (22,5 x8,5)cm loại lưỡi sắc, mũi vuông, phần đầu mũi có 01 lỗ hình tròn đường kính 01cm, phần chuôi dao (13,5 x 4)cm bọc gỗ.
Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 56/22/TgT ngày 11/3/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Hà Nam đối với anh Đào Quang Th kết luận: 1. Dấu hiệu chính qua giám định: Sẹo trung bình cẳng tay phải, không ảnh hưởng tới chức năng: 02%; Gãy xương trụ phải, đã kết hợp đinh nội tủy: 08%; Sưng nề cẳng chân phải, sau điều trị ổn định: không quy định tỷ lệ tổn hại cơ thể. 2. Căn cứ Bảng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích, ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ y tế, quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định tâm thần. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định: 10%. 3. Đặc điểm, tình trạng, chiều hướng và vật gây thương tích: qua nghiên cứu hồ sơ tài liệu và khám giám định nhận định: Thương tích ổn định và liền sẹo nên không đủ căn cứ xác định chiều hướng, thương tích cẳng tay phải do vật sắc gây nên. Sưng nề do vật tày gây nên.
Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 65/22/TgT ngày 18/3/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Hà Nam đối với Nguyễn Tiến D kết luận: 1. Dấu hiệu chính qua giám định: sây sát sưng nề vùng thái dương trái đã ổn định, không để lại dấu vết thương tích: không quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể; gãy xương đòn trái, di lệch, đã can; không đủ căn cứ xác định gãy xương đòn trái có liên quan đến vụ việc ngày 11/01/2022 nên không đánh giá và xếp tỷ lệ tổn thương cơ thể. 2. Căn cứ Bảng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ y tế, quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định tâm thần; tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định: không xếp tỷ lệ tổn thương cơ thể. 3. Đặc điểm, tình trạng, chiều hướng và vật gây thương tích: qua nghiên cứu hồ sơ tài liệu và khám giám định nhận định: Thương tích đã ổn định nên không đủ căn cứ xác định chiều hướng, sây sát da do vật có góc cạnh gây nên, sưng nề do vật tày gây nên.
Giai đoạn điều tra, anh Đào Quang Th yêu cầu Nguyễn Tiến D bồi thường số tiền 70 triệu đồng tổn hại sức khỏe, tiền điều trị vết thương và tiền đền bù tổn thất tinh thần. Nguyễn Tiến D cho rằng mình không phải là người gây thương tích cho anh Đào Quang Th nên không bồi thường. Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, anh Đào Quang Th rút toàn bộ yêu cầu bồi thường dân sự, không yêu cầu Nguyễn Tiến D bồi thường bất cứ khoản tiền nào cho anh Đào Quang Th.
Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2022/HS-ST ngày 22/9/2022 của Toà án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam quyết định: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến D phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 47 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Tiến D 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại.
Trong hạn luật định, bị cáo Nguyễn Tiến D có đơn kháng cáo (đề ngày 04/10/2022) đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ nội dung vụ án, xem xét lại tội “Cố ý gây thương tích” và mức hình phạt đối với bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Tiến D giữ nguyên yêu cầu kháng cáo như trên.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam đề nghị Hội đồng xét xử: căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự: không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 62/2022/HS-ST ngày 22/9/2022, Toà án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Tiến D không nhất trí; Bị hại Đào Quang Th nhất trí quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam.
Người làm chứng là anh Trần Văn T, anh Phạm Văn C cam đoan khai báo trung thực trước phiên tòa phúc thẩm, trình bày các anh không có mâu thuẫn gì với bị cáo Nguyễn Tiến D và sự việc diễn ra như lời trình bày của anh Đào Quang Th, các anh chỉ là bạn đến chơi, ăn cơm ở nhà anh Đào Quang Th, khi thấy anh Đào Quang Th và bị cáo Nguyễn Tiến D có xô sát cãi chửi nhau và khi được vợ anh Đào Quang Th bảo sang xem sự việc thế nào thì các anh mới sang nhà bị cáo nhằm mục đích can ngăn, các anh không hề đánh bị cáo Nguyễn Tiến D như lời trình bày của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đơn kháng cáo của bị cáo gửi trong thời hạn luật định, hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về hành vi phạm tội và tội danh:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo chỉ thừa nhận có dùng dao chém gây thương tích cho ai bị cáo không biết; bị cáo cho rằng cấp sơ thẩm chưa làm rõ bản chất diễn biến sự việc xẩy ra ngày 11/01/2022 tại gia đình bị cáo khi đó bị cáo đã đi ngủ thì anh Đào Quang Th đi cùng anh Trần Văn T và anh Phạm Văn C (mặc dù không có mâu thuẫn gì) sang nhà bị cáo gây sự rồi lao vào đánh túi bụi bị cáo trước, bị cáo lùi vào thì bị anh C lấy tay kẹp vào cổ, đập đầu bị cáo vào cạnh cột nhà, bị cáo chạy thì bị anh T đuổi theo kéo lại đồng thời đánh, hô bị cáo ngáo, chém chết bị cáo; ba anh đánh làm mặt, mũi, đầu, vai bị cáo sưng, phù nề; sự việc có bố bị cáo là ông Nguyễn Quốc T và con bị cáo là cháu T1 chứng kiến. Do bị ba người đe dọa tính mạng, sức khỏe nên để phòng vệ cho mình và hai con nhỏ, bị cáo đã lấy dao chém không biết trúng vào ai, đó là phòng vệ chính đáng. Mặt khác án sơ thẩm chưa áp dụng hết tình tiết giảm nhẹ là “phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng”, “phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần”, “phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” cho bị cáo; ngoài ra gia đình bị cáo có người có công với cách mạng, bản thân bị cáo chưa có công ăn việc làm ổn định, hoàn cảnh rất khó khăn lại đang phải nuôi 03 con còn nhỏ (lớn nhất mới 13 tuổi, nhỏ nhất gần 3 tuổi).
Tuy nhiên căn cứ kết quả điều tra, diễn biến vụ việc và tại phiên tòa, thấy rằng: Giai đoạn điều tra bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thừa nhận hành vi dùng dao chém, thực tế đã gây nên thương tích cho anh Đào Quang Th là phù hợp lời khai thừa nhận hành vi phạm tội tại phiên tòa sơ thẩm. Đối với trình bày của bị cáo cho rằng bị ba anh Đào Quang Th, anh T và anh C cùng đánh bị cáo ngoài lời khai của bị cáo không có chứng cứ nào khác chứng minh (hồ sơ vụ án thể hiện bố bị cáo không có mặt lúc sự việc xẩy ra, con bị cáo là cháu T1 tại phiên tòa sơ thẩm cũng khai không được chứng kiến sự việc). Vụ án theo bị hại xuất phát từ mâu thuẫn trong sinh hoạt giữa bị cáo và các thành viên gia đình vợ đã ly hôn; việc anh Đào Quang Th sang nhà bị cáo nói chuyện phải trái và xẩy ra xô sát chỉ bằng tay chân và không có căn cứ chứng minh anh T, anh C cùng tham gia với anh Đào Quang Th đánh bị cáo nhưng bị cáo đã lấy dao (là hung khí nguy hiểm) chém vào người anh Đào Quang Th gây nên thương tích cho anh. Đây không là căn cứ thuộc trường hợp ‘phòng vệ chính đáng” hoặc “phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng”, “phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi xâm phạm gia cư bất hợp pháp” như lý do mà bị cáo đã đưa ra. Về thương tích của bị cáo tại Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể bị cáo vào 23h30’ ngày 11/01/2022 xác định bị cáo có 01 vết sưng nề tại vị trí thái dương trái diện 4x5cm; tương ứng vị trí này có 01 vết xước da chảy máu kích thước 2x0,1cm mà bị cáo trình bày do anh Đào Quang Th, C và anh T gây ra nhưng không có căn cứ chứng minh anh T, anh C cùng tham gia đánh bị cáo, mặt khác tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 65/22/TgT ngày 18/3/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Hà Nam xác định: 1. sây sát sưng nề vùng thái dương trái đã ổn định, không để lại dấu vết thương tích: không quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể; gãy xương đòn trái, di lệch, đã can; không đủ căn cứ xác định gãy xương đòn trái có liên quan đến vụ việc ngày 11/01/2022 nên không đánh giá và xếp tỷ lệ tổn thương cơ thể. 2. Căn cứ Bảng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ y tế, quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định tâm thần; tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định: không xếp tỷ lệ tổn thương cơ thể. 3. Đặc điểm, tình trạng, chiều hướng và vật gây thương tích: qua nghiên cứu hồ sơ tài liệu và khám giám định nhận định: Thương tích đã ổn định nên không đủ căn cứ xác định chiều hướng, sây sát da do vật có góc cạnh gây nên, sưng nề do vật tày gây nên. Vì vậy không có cơ sở xác định việc người khác gây nên thương tích cho bị cáo.
Về việc bị cáo cho rằng cấp sơ thẩm không áp dụng cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ “phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” và gia đình bị cáo có người có công với cách mạng, bản thân bị cáo chưa có công ăn việc làm ổn định, hoàn cảnh rất khó khăn lại đang phải nuôi 03 con còn nhỏ; bản án sơ thẩm đã nhận định và áp dụng tình tiết “phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” tại điểm i khoản 1 Điều 51, đã xem xét hoàn cảnh khó khăn của gia đình bị cáo để áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo; về tình tiết gia đình bị cáo có thân nhân có công với cách mạng nhưng bị cáo không xuất trình được tài liệu chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở xem xét.
Từ phân tích nêu trên, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 21h20’ ngày 11/01/2022, do có mâu thuẫn trước đó, anh Đào Quang Th đến nhà Nguyễn Tiến D để nói chuyện phải trái thì giữa hai bên xảy ra cãi chửi, xô sát dùng tay chân đấm đá nhau. Nguyễn Tiến D đã vào buồng ngủ lấy 01 chiếc dao phay cán gỗ KT khoảng (36x3,8) cm đứng dối diện cách anh Đào Quang Th 01m, cầm dao ở tay phải vung lên chém 01 nhát, anh Đào Quang Th giơ tay đỡ thì bị chém trúng vào cẳng tay phải làm gãy xương cẳng tay phải; cả hai tiếp tục giằng co, Nguyễn Tiến D tiếp tục dùng sống dao đập 01 nhát vào cẳng chân phải làm anh Đào Quang Th bị rách da chảy máu, sưng nề cẳng chân, kết quả giám định gây thương tích 10% cho anh Đào Quang Th. Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Tiến D về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
. Về tính chất của tội phạm: Hành vi phạm tội của Nguyễn Tiến D là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, ngày 18/9/2022 khi gặp anh Trần Văn T tại cây xăng Đức An, bị cáo còn có hành vi lao xe vào anh T, đấm anh T; thể hiện bị cáo coi thường pháp luật, sức khỏe của người khác cần xử lý nghiêm với mức hình phạt tương xứng, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm.
Xét kháng cáo của bị cáo: Xét các lý do bị cáo trình bày không có cơ sở và từ các phân tích nêu trên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Xem xét toàn diện vụ án, nguyên nhân tội phạm, các tình tiết về nhân thân (bị cáo có nhân thân xấu) và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy cấp sơ thẩm xét xử, tuyên phạt bị cáo mức án 12 tháng tù là phù hợp. Cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến D, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 62/2022/HS-ST ngày 22/9/2022 của Toà án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến D phạm tội “Cố ý gây thương tích”, xử phạt Nguyễn Tiến D 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
2. Án phí HSPT: Bị cáo Nguyễn Tiến D phải chịu 200.000 đồng.
3. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Hà Nam; - TAND, VKSND huyện Thanh Liêm; - Chi cục THADS huyện Thanh Liêm; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh Hà Nam; - Bị cáo; Bị hại; - Lưu hồ sơ VA; Tòa HS, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Nguyễn Mạnh Hùng |