- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Công B - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Công B.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2022/HS-PT Ngày: 18-9-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thư
Các Thẩm phán:
Ông Lê Quang Ninh
Ông Lê Viết Phong
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Ái Vi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh B Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B Phước tham gia phiên tòa: Bà Đàm Thị Vang - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2022, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh B Phước và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh B Phước tiến hành xét xử phúc thẩm trực tuyến, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 67/2022/TLPT-HS ngày 02 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Công B do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2022/HS-ST ngày 21 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh B Phước.
Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Công B, sinh năm 1989, tại: B Phước; Hộ khẩu thường trú: Tổ 3, ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh B Phước; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 09/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Công V, sinh năm 1962 (đã chết) và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1963, bị cáo có 06 anh em, bị cáo là con thứ 03 trong gia đình; Bị cáo có vợ Phan Thị T, sinh năm 1989 và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2017.
Tiền án: Ngày 11/9/2013, bị Tòa án nhân dân tỉnh B Phước xử phạt 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” Tại Bản án số 124/2013/HSPT, chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/4/2014 nhưng chưa chấp hành bồi thường dân sự, chưa được xóa án tích.
Tiền sự: Ngày 14/9/2017, bị Công an huyện Đ, tỉnh B Phước ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Xâm hại đến sức khỏe của người khác” tại Quyết định số 117/QĐ-XLVPHC, chưa chấp hành đóng phạt.
Nhân thân: Ngày 14/02/2022, bị Công an huyện Phú Riềng, tỉnh B Phước ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” tại Quyết định số 85/QĐ-XPHC, đã chấp hành đóng phạt ngày 08/3/2022.
Bị cáo bị bắt truy nã, tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/4/2022 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo Nguyễn Quang L và những người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khác nhưng do không có kháng cáo, không bị Viện kiểm sát kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 16/6/2021, Nguyễn Quang L đang ở nhà xem bóng đá thì Nguyễn Công B đi bộ sang chơi. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, B rủ L đi trộm cắp máy cưa cầm tay tại công ty gỗ M thuộc ấp Thuận Hòa 2, xã T (nơi B đang làm công nhân) để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân thì L đồng ý. B điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, không rõ biển số chở L đến gần Công ty M, giấu xe trong lô cao su rồi đi bộ đến xưởng ván lạng. B lấy cái kìm có sẵn ở xưởng cắt sợi dây kẽm, mở thùng chứa máy cưa lấy 02 chiếc máy cưa, L lấy 01 chiếc máy cưa cầm tay hiệu STIHL, model 382 màu trắng – cam. Trong lúc L, B xách 03 chiếc máy cưa đi bộ ngang qua vườn sầu riêng của ông Nguyễn Văn N thì bị ông N phát hiện. Do nghi ngờ B, L trộm cắp sầu riêng nên ông N cầm con dao rựa giơ lên hù dọa thì L và B bỏ lại 03 chiếc máy cưa rồi bỏ chạy về nhà.
Tại Kết luận định giá tài sản số 62/KL-HĐĐGTS ngày 26/8/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS huyện Đ, kết luận: 03 máy cưa cầm tay hiệu STIHL, model 382 màu trắng – cam, loại máy cưa cầm tay tại thời điểm ngày 16/6/2021 có giá trị là 31.200.000 đồng (ba mươi mốt triệu hai trăm nghìn đồng).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2022/HS-ST ngày 21 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh B Phước quyết định:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Quang L và Nguyễn Công B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt:
- Căn cứ khoản 1, Điều 173; điểm g, h khoản 1, Điều 52; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Quang L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/12/2021.
- Căn cứ khoản 1, Điều 173; điểm g, khoản 1, Điều 52; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Công B 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/4/2022.
Hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
3. Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự: Buộc các bị cáo phải có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho Công ty cổ phần Thương mại dịch vụ M số tiền 39.000.000 đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, về án phí, trách nhiệm dân sự và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 22/6/2022 bị cáo Nguyễn Công B có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Nguyễn Công B giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tại phiên tòa phúc thẩm: Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Công B. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2022/HS-ST ngày 21 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Đ vế phần hình phạt đối với bị cáo B.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Công B được làm trong thời hạn luật định, có nội dung và hình thức phù hợp với quy định tại các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Công B thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu cụ thể: Ngày 16/6/2021, Nguyễn Quang L và Nguyễn Công B đã lén lút chiếm đoạt 03 máy cưa cầm tay hiệu STIHL, model 382 màu trắng – cam, của Công ty gỗ M tại ấp Thuận Hòa 2, xã T, huyện Đ, tỉnh B Phước. Trị giá tài sản chiếm đoạt là 31.200.000 đồng (ba mươi mốt triệu hai trăm nghìn đồng). Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố B phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng quy định.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo B thấy rằng:
Khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của Công ty gỗ M, B phạm tội với vai trò là người khởi xướng, rủ rê và cùng L thực hành. Bị cáo là người có nhân thân xấu có 01 tiền án về hành vi “Cố ý gây thương tích” bị TAND tỉnh B Phước xử phạt tù chưa được xóa tích do chưa chấp hành bản án về phần bồi thường dân sự nên bị cáo chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; bị cáo có 01 tiền sự bị Công an huyện Đ xử phạt hành chính 2.500.000 đồng về hành vi “Xâm hại đến sức khỏe của người khác” chưa đóng phạt, ngoài ra ngày 14/02/2022 bị Công an huyện Đ xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Chứng tỏ, bị cáo là người thiếu ý thức chấp hành pháp luật nên sau khi Tòa án cấp sơ thẩm xem xét áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, tài sản đã được thi hồi trả lại cho người bị hại, bị cáo có con còn nhỏ theo điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, đồng thời xem xét tính chất, mức độ phạm tội, vai trò, nhân thân bị cáo, xử phạt bị cáo mức án 02 năm tù là phù hợp, không nặng nên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo là không có căn cứ chấp nhận.
Bị cáo B phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nhưng Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo B tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “ăn năn hối cải” là chưa đúng tuy nhiên do mức hình phạt cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo đã phù hợp nên chỉ nêu ra rút kinh nghiệm.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm là có căn cứ nên được chấp nhận.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Án phí phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Công B phải chịu 200.000 đồng
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Công B.
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2022/HS-ST ngày 21 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh B Phước về phần hình phạt của bị cáo Nguyễn Công B
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Công B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1, Điều 52; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Công B 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/4/2022.
Hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Công B phải chịu 200.000 đồng.
4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh B Phước; - Phòng PV 06 Công an tỉnh B Phước; - Sở Tư pháp; - TAND, VKS, CA huyện Đ; - CQTHAHS CA huyện Đ; - CQĐT CA huyện Đ; - Chi cục THADS huyện Đ; - Bị cáo; - Trại tạm giam CA tỉnh B Phước; - Lưu: HSVA, Tổ HCTP, Tòa HS. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Văn Thư |