vanban.org

Bản án 61/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị Duyên E.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Huỳnh Thị Duyên E được ly hôn với anh Nguyễn Chí Tùng L 2/ Về con chung: Giao con chung Huỳnh Nguyễn Khánh N, sinh ngày 13/12/2008 và Huỳnh Hải Đ, sinh ngày 16/6/2014 cho chị Huỳnh Thị Duyên E tiếp tục nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Thị Duyên E ly hôn, nuôi con với Nguyễn Chí Tùng L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị Duyên E.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MANG THÍT
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2022/HNGĐ – ST
Ngày: 12-7- 2022
“Về việc xin ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Tám

Các Hội thẩm nhân dân

Bà Trần Thị Mỹ Trang

Ông Nguyễn Văn Bảy

-Thư ký phiên tòa:Bà Phan Thị Hoàng Cúc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Thít.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít: không tham gia phiên tòa.

Ngày 12 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long. Xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 44/2022/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 2 năm 2022, về việc: “Xin ly hôn, nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2022/QĐST – HNGĐ, ngày 26 tháng 5 năm 2022 giữa các đượng sự:

* Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Duyên E, sinh năm 1986

Địa chỉ: ấp T1, xã T2, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

* Bị đơn: Anh Nguyễn Chí Tùng L, sinh năm: 1979 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp T1, xã T2, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Huỳnh Thị Duyên E trình bày: Nguyên vào năm 2007 chị và anh Nguyễn Chí Tùng L do quen biết và tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T2, huyện M vào ngày 22/4/2016.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại ấp T1, xã T2. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, hòa thuận, đến đầu năm 2021 phát sinh mâu thuẩn, thường xuyên cự cãi, mâu thuẩn ngày càng nghiêm trọng, do anh Tùng L sống bên gia đình chị mà không hòa hợp với mọi người và với cả vợ con thường hay kiếm chuyện vô cớ. Hiện nay anh L đã bỏ nhà đi thành phố Hồ Chí Minh làm khoảng hơn tháng nay.

Nay chị cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn nên chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Chí Tùng L.

- Con chung: quá trình chung sống vợ chồng có hai con chung tên Huỳnh Nguyễn Khánh N, sinh ngày 13/12/2008 và Huỳnh Hải Đ, sinh ngày 16/6/2014 hiện đang sinh sống với chị, chị yêu cầu cầu tiếp tục nuôi dưỡng hai con chung, chưa yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

- Tài sản chung: tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết

- Nợ chung phải thu, phải trả: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho bị đơn anh Nguyễn Chí Tùng L nhưng bị đơn vắng mặt không rõ lý do nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Huỳnh Thị Duyên E giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn anh Nguyễn Chí Tùng L vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

[ 1 ] Về tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Chí Tùng L đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt anh L.

[ 2 ] Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2007, chị Huỳnh Thị Duyên E và anh Nguyễn Chí Tùng L xây dựng hôn nhân với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T2, huyện M vào ngày 22/4/2016. Vì vậy quan hệ hôn nhân giữa chị Duyên E và anh L là hôn nhân hợp pháp.

Về mâu thuẩn vợ chồng chị Duyên E cho rằng vợ chồng sống hạnh phúc, đến đầu năm 2021 phát sinh mâu thuẩn, thường xuyên cự cãi, mâu thuẩn ngày càng nghiêm trọng, do anh Tùng L sống bên gia đình chị mà không hòa hợp với mọi người và với cả vợ con thường hay kiếm chuyện vô cớ. Hiện nay anh L đã bỏ nhà đi thành phố Hồ Chí Minh làm khoảng hơn tháng nay. Anh L đã được Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Duyên E nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó chứng tỏ rằng tình trạng hôn nhân giữa chị Duyên E và anh L trở nên trầm trọng, không thể hàn gắn được, nên xét việc chị Duyên E yêu cầu ly hôn với anh L là có căn cứ phù hợp với Điều 51 và 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[ 2 ] Về con chung: Huỳnh Nguyễn Khánh N, sinh ngày 13/12/2008 và Huỳnh Hải Đ, sinh ngày 16/6/2014, chị Duyên E yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, chưa yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con. Quá trình giải quyết cháu Hải Đ và Khánh N cho rằng hiện nay đang sống với mẹ là chị Duyên E, trường hợp cha mẹ ly hôn, Hải Đ và Khánh N có nguyện vọng được sống với mẹ là chị Duyên E. Do đó Hội đồng xét xử giao Hải Đ và Khánh N cho chị Duyên E tiếp tục nuôi dưỡng, do bên trực tiếp nuôi con chưa yêu cầu cấp dưỡng con nên không xem xét.

Quyền và nghĩa vụ về tài sản chung, nợ phải thu, phải trả: đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[ 4 ] Về án phí: Chị Duyên E phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ vào khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị Duyên E.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Huỳnh Thị Duyên E được ly hôn với anh Nguyễn Chí Tùng L

2/ Về con chung: Giao con chung Huỳnh Nguyễn Khánh N, sinh ngày 13/12/2008 và Huỳnh Hải Đ, sinh ngày 16/6/2014 cho chị Huỳnh Thị Duyên E tiếp tục nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do bên trực tiếp nuôi dưỡng chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con không xem xét.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3/ Quyền và nghĩa vụ về tài sản chung, nợ phải thu, phải trả: không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

4/ Về án phí: Chị Huỳnh Thị Duyên E phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, số tiền này được khấu trừ từ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện M theo lai thu số No 0006945 ngày 18 tháng 02 năm 2022, chị Duyên E không phải nộp thêm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoạc tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ