vanban.org

Bản án 61/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Lệ D 1/ Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Huỳnh Thị Lệ D được ly hôn với ông Đặng Văn C. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC NINH
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2022/HNGĐ – ST
Ngày 07-9-2022
V/v “Ly hôn và nuôi con”

NHAÂN DANH

NÖÔÙC COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM

TOØA AÙN NHAÂN DAÂN HUYEÄN LOÄC NINH, TÆNH BÌNH PHÖÔÙC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Quyết

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Ngân

2. Bà Trần Xuân Đạm

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Anh Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Như Mai Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 110/2022/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2022 về việc “Ly hôn và nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2022/QĐXX-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 33/2022/QĐST-HNGĐ ngày 19/8/2022 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Lệ D, sinh năm 1985 (Có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: ấp 8, xã Lộc Hòa, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.

* Bị đơn: Ông Đặng Văn C, sinh năm 1977 (vắng mặt không có lý do)

HKTT: ấp 8, xã Lộc Hòa, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.

Nơi cư trú hiện nay: ấp Tà Thiết, xã Lộc Thịnh, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện ngày 04/4/2022 và bản tự khai nguyên đơn bà Huỳnh Thị Lệ D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà D và ông Đặng Văn C có tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Lộc Thuận, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.

Trước khi kết hôn có tìm hiểu nhau trong thời gian 01 năm.

Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung tại ấp 8, xã Lộc Hòa, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.

Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, cuộc sống không hạnh phúc nên vợ chồng sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay.

Nay nhận thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên Bà D xin được ly hôn với ông C.

+ Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung con tên là: Đặng Thị Hạnh N, sinh ngày 09/12/2004 và Đặng Duy K, sinh ngày 18/6/2009.

Hiện nay con đang sống cùng Bà D tại xã Lộc Hòa, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.

Khi ly hôn Bà D yêu cầu được nuôi con chung do con chung và không yêu cầu ông C phải cấp dưỡng nuôi con.

Vợ chồng không nhận ai làm con nuôi.

+ Về tài sản chung: Bà D và Đặng Văn C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Về nợ chung: Bà D và ông Đặng Văn C không có nợ ai và không ai nợ lại vợ chồng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Đặng Văn C vắng mặt không có lý do và không cung cấp lời khai cũng như văn bản trình bày ý kiến.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh phát biểu ý kiến:

- Việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, thực hiện thủ tục cấp tống đạt các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát, thành phần tham gia xét xử được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh không có kiến nghị gì về tố tụng.

- Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Lệ D.

+ Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Huỳnh Thị Lệ D được ly hôn với ông Đặng Văn C.

+ Về con chung: Giao cho bà Huỳnh Thị Lệ D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục con chung tên là: Đặng Thị Hạnh N, sinh ngày 09/12/2004 và Đặng Duy K, sinh ngày 18/6/2009.

+ Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Huỳnh Thị Lệ D không yêu cầu ông Đặng Văn C cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

+ Về tài sản chung: Bà Huỳnh Thị Lệ D và ông Đặng Văn C không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

+ Về nợ chung: Bà Huỳnh Thị Lệ D và ông Đặng Văn C không có và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Lệ D có đơn khởi kiện ly hôn với ông Đặng Văn C tại Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh để giải quyết theo thẩm quyền. Quá trình làm việc xác định ông Đặng Văn C có nơi cư trú tại huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Nguyên đơn đã có ý kiến bằng văn bản đề nghị được xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Lệ D và ông Đặng Văn C sống chung với nhau vào năm 2003 và đến năm 2009 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Lộc Thuận, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước. Vì vậy, hôn nhân giữa bà Huỳnh Thị Lệ D và ông Đặng Văn C là hợp pháp.

Theo đơn khởi kiện thì Bà D cho rằng vợ chồng sống hòa thuận đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, tính tình không hợp, cuộc sống không hạnh phúc, vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2021 cho đến nay, nên Bà D xin được ly hôn với ông C. Ông C đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến hay yêu cầu để hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa Bà D và ông C đã trầm trọng, cuộc sống không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được; Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử quyết định cho Bà D được ly hôn với ông C.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung con tên là: Đặng Thị Hạnh N, sinh ngày 09/12/2004 và Đặng Duy K, sinh ngày 18/6/2009. Vợ chồng không nhận ai làm con nuôi.

Hiện nay con chung đang sống cùng Bà D tại xã Lộc Hòa, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước. Khi ly hôn Bà D yêu cầu được nuôi 2 con chung là Đặng Thị Hạnh N và Đặng Duy K. Cháu Nhi và cháu Khánh cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Vì vậy, cần tiếp tục giao con chung cho Bà D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.

Về tài sản chung: Bà D khẳng định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Bà D khẳng định không có nợ ai và không ai nợ lại vợ chồng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Như vậy, Bà D phải chịu số tiền án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 39 Bộ luật dân sự;

- Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57 và Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 85, Điều 86, Điều 87 Luật hôn nhân và gia đình;

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Lệ D

1/ Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Huỳnh Thị Lệ D được ly hôn với ông Đặng Văn C.

2/ Về con chung: Giao con chung tên là: Đặng Thị Hạnh N, sinh ngày 09/12/2004 và Đặng Duy K, sinh ngày 18/6/2009 cho bà Huỳnh Thị Lệ D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3/ Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Huỳnh Thị Lệ D không yêu cầu ông Đặng Văn C phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4/ Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

5/ Về nợ chung: Đương sự khẳng định không có nợ ai và không ai nợ lại vợ chồng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

6/ Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Huỳnh Thị Lệ D phải chịu 300.000đồng án phí, được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0009849 ngày 23/5/2022.

7/ Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ