vanban.org

Bản án 61/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đ Lưu Thủy T và anh Bùi Văn Q.

Về nuôi con chung: Xử giao cho chị Đ Lưu Thủy T trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung Bùi Gia H, sinh ngày 07-6-2015 và Bùi Hải Đ, sinh ngày 18-10-2017. Anh Q không phải góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T. Anh Q có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Về chia tài… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa chị Đoàn Lưu Thủy T và anh Bùi Văn Q"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đ Lưu Thủy T và anh Bùi Văn Q.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƯNG HÀ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 23-8-2022
V/v : Ly hôn, nuôi con chung.

NHÂNDANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Đăng Tuấn.

2. Bà Vũ Thị Khánh Hòa.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đình Trường - Thư kýToà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 201/2022/TLST- HNGĐ, ngày 20 tháng 6 năm 2022 về việc: "Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2022/QĐXX-ST ngày 25 tháng 7 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 27/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 09 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Đ Lưu Thủy T, sinh năm 1997 (xin vắng mặt)

Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình. Nơi ở hiện nay: Thôn N, xã L, huyện H, tỉnh Thái Bình.

2. Bị đơn:Anh Bùi Văn Q, sinh năm 1990 (vắng mặt) Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và đơn đề nghị giải quyết và xét xử vắng mặt, nguyên đơn chị Đ Lưu Thủy T trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Bùi Văn Q kết hôn cùng nhau do đôi bên tự nguyện tìm hiểu, có Đ ký kết hôn tại trụ sở Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) thị trấn H, Hện H, tỉnh Thái Bình vào ngày 25-11-2014. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không bảo ban được nhau trong cuộc sống hàng ngày, anh Q có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, chị kHên bảo thì vợ chồng đánh, cãi nhau. Mâu thuẫn trầm trọng, đôi bên không khắc phục được, đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án nhân dân (viết tắt là TAND) Hện H giải quyết cho chị được ly hôn anh Q.

Về nuôi con chung: Chị và anh Q có 02 con chung là Bùi Gia H, sinh ngày 07-6-2015 và Bùi Hải Đ, sinh ngày 18-10-2017. Nếu ly hôn chị xin được trực tiếp nuôi con chung Bùi Hải Đ nhường anh Q nuôi con chung Bùi Gia H, không bên nào phải góp cấp dưỡng nuôi con cho bên nào hoặc chị xin trực tiếp nuôi cả 02 con, không yêu cầu anh Q góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

Về chia tài sản chung: Chị và anh Q không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Vì công việc bận nên chị xin vắng mặt tại phiên tòa xét xử ly hôn giữa chị và anh Q.

Quá trình giải quyết vụ án anh Bùi Văn Q vắng mặt nên không có trình bầy.

Tại biên xác minh và biên bản ghi lời khai của ông Bùi Q Đ là bố đẻ của anh Bùi Văn Q trình bày:

Anh Bùi Văn Q hiện đang lao động tự do, ông không có địa chỉ cụ thể của anh Q nên không cung cấp cho Tòa án được, anh Q thường xuyên liên lạc về gia đình qua điện thoại. Ông đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải của Tòa án nhân dân huyện H gửi cho anh Q và đã thông báo toàn bộ các nội dung các văn bản trên cho anh Q, anh Q biết được hiện nay Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình đang giải quyết vụ án ly hôn giữa chị T và anh Q nhưng do công việc bận nên anh không thể về Tòa án để giải quyết vụ án ly hôn giữa anh và chị T được, quan điểm của anh Q như sau:

Về hôn nhân: Anh và chị Đ Lưu Thủy T kết hôn cùng nhau do đôi bên tự nguyện tìm hiểu, có Đ ký kết hôn tại trụ sở UBND thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình vào ngày 25-11-2014. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không bảo ban được nhau trong cuộc sống hàng ngày, mặc dù gia đình đã nhiều lần khuyên bảo nhưng không khắc phục được. Mâu thuẫn trầm trọng nhất vào năm 2019, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị T có đơn xin ly hôn, anh nhất trí.

Về nuôi con chung: Anh và chị T có 02 con chung là Bùi Gia H, sinh ngày 07-6-2015 và Bùi Hải Đ, sinh ngày 18-10-2017. Nếu ly hôn anh xin được trực tiếp nuôi con chung Bùi Gia H nhường chị T nuôi con chung Bùi Hải Đ, không bên nào phải góp cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.

Về chia tài sản chung: Anh và chị T không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình giám sát sự tuân theo pháp luật tại phiên tòa phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tiến hành thụ lý, thu thập chứng cứ và xét xử vụ án theo đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định, chị T đã thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, anh Q không thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Anh Q vắng mặt, giấu địa chỉ, Tòa án đã thực hiện đầy đủ việc tống đạt hợp lệ các văn bản của Tòa án đối với anh Q theo đúng quy định của pháp luật. Về việc giải quyết vụ án: Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử xử cho chị Đ Lưu Thủy T được ly hôn anh Bùi Văn Q; về nuôi con chung: Giao 02 con chung Bùi Gia H, sinh ngày 07-6-2015 và Bùi Hải Đ, sinh ngày 18-10-2017 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chấp nhận sự tự nguyện nuôi con hoàn toàn của chị T không yêu cầu anh Q góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị; về chia tài sản chung: Chưa giải quyết; về án phí: Chị T phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân Hện H nhận định:

Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Chị Đ Lưu Thủy T khởi kiện yêu cầu được ly hôn anh Bùi Văn Q căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND Hện H, tỉnh Thái Bình và quan hệ tranh chấp là “ Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung”.

Về tố tụng: TAND huyện H, tỉnh Thái Bình đã tống đạt hợp lệ các văn bản của Tòa án cho anh Q, anh Q biết việc TAND huyện H đang thụ lý và giải quyết vụ án ly hôn giữa chị T và anh Q nhưng anh Q cố tình giấu địa chỉ không đến Tòa án để làm việc và tham gia tố tụng tại phiên tòa nên TAND huyện H tiến hành xét xử vắng mặt anh Q theo trường hợp bị đơn cố tình vắng mặt, giấu địa chỉ theo quy tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị T đề nghị Tòa án không hòa giải, xin vắng mặt tại phiên tòa nên Tòa án nhân dân huyện H tiến hành xét xử vắng mặt chị T theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Chị Đ Lưu Thủy T kết hôn với anh Bùi Văn Q tự nguyện, có Đ ký kết hôn tại UBND thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình vào 25-11-2014, là hôn nhân hợp pháp. Sau thời gian chung sống hòa thuận, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không bảo ban được nhau trong cuộc sống hàng ngày, chị T và anh Q không khắc phục được đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Hội đồng xét xử thấy mâu thuẫn vợ chồng chị T và anh Q đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị T, xử cho chị T được ly hôn anh Q là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: Chị T và anh Q có 02 con chung là Bùi Gia H, sinh ngày 07-6-2015 và Bùi Hải Đ, sinh ngày 18-10-2017, chị T xin được trực tiếp nuôi cả 02 con chung, anh Q thể hiện quan điểm xin được trực tiếp nuôi con là H, nhường chị T trực tiếp nuôi con là Đ. Hội đồng xét xử thấy anh Q vắng mặt tại địa phương nên để đảm bảo điều kiện về mọi mặt cho các con chung nên cần giao cả 02 con chung là H và Đ cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng và chấp nhận sự tự nguyện nuôi con hoàn toàn của chị T, không yêu cầu anh Q góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T là phù hợp với quy định của Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Về chia tài sản: Chị T trình bầy chị và anh Q không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; qua biên bản xác minh ông Đ cung cấp, anh Q trình bày vợ chồng không có tài sản chung nhưng do chưa có ý kiến trực tiếp của anh Q nên Hội đồng xét xử chưa xem xét giải quyết về phần tài sản chung của chị T và anh Q tại phiên tòa này. Chị T và anh Q có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản (nếu có) bằng vụ kiện dân sự khác.

Xét quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện H về hướng giải quyết vụ án phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí: Chị T phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1.Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đ Lưu Thủy T và anh Bùi Văn Q.

2.Về nuôi con chung: Xử giao cho chị Đ Lưu Thủy T trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung Bùi Gia H, sinh ngày 07-6-2015 và Bùi Hải Đ, sinh ngày 18-10-2017. Anh Q không phải góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T. Anh Q có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

3.Về chia tài sản chung: Chưa giải quyết.

4.Về án phí: Chị Đ Lưu Thủy T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0003748 ngày 20-6-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Thái Bình (chị T đã nộp đủ tiền án phí).

5. Về quyền kháng cáo: Chị Đ Lưu Thủy T và anh Bùi Văn Q có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Cỡ chữ