vanban.org

Bản án 61/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Đ được ly hôn với anh Nguyễn Thanh Q. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 104/2011, quyển số 01, ngày 24/6/2011 do Uỷ ban nhân dân xã VH (huyện CT, An Giang) cấp không còn giá trị pháp lý. Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Công nhận cháu Nguyễn T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Đ tranh chấp ly hôn, nuôi con với Nguyễn Thanh Q"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 61/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 15-7-2022
V/v “Tranh chấp về ly hôn; nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CT, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Mỹ Linh;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn Năng;

2. Bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Sơn - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CT tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tố Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CT xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 134/2022/TLST-HNGĐ, ngày 14 tháng 3 năm 2022 về việc: "Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/6/2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1990 (Có đơn xin vắng mặt);

Cư trú: Ấp TT, xã TP, huyện CT, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh Q, sinh năm 1983 (vắng mặt);

Nơi cư trú: Ấp VT, xã VH, huyện CT, An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Đ trình bày:

Chị và anh Nguyễn Thanh Q sống chung với nhau từ năm 2011, hôn nhân xây dựng trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Uỷ ban nhân dân xã VH, huyện CT (giấy đăng ký kết hôn số 104/2011, quyển số 1 ngày 24/6/2011). Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được hơn 10 năm thì đến đầu năm 2021 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không tôn trọng và quan tâm lẫn nhau, tính tình không hợp, thường xuyên cự cãi, chồng không lo kinh tế gia đình để phụ giúp chị, anh Q thường xuyên nhậu nhẹt về đánh chị, đập vỡ đồ đạc trong nhà…đến ngày 27/4/2021 chị bỏ về nhà cha mẹ ruột sống, dẫn đến mất tình cảm, vợ chồng đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Nguyễn Thị Đ yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Thanh Q.

Quá trình chung sống chị và anh Thanh Q có 01 con chung tên Nguyễn Thị Tường V, sinh ngày 24/4/2009; Hiện cháu Tường V đang sống với chị, sau khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Vi, không yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

Do bận đi làm công nhân cho Công ty tại Khu công nghiệp; bên cạnh đó tình hình dịch bệnh vẫn còn đang diễn biến phức tạp, điều kiện đi tới lui rất khó khăn nên chị Đ xin được vắng mặt tại các phiên xét xử tại Tòa án.

* Đối với bị đơn anh Nguyễn Thanh Q: Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đến gia đình nhằm tạo điều kiện hòa giải đoàn tụ và hàn gắn quan hệ vợ chồng giữa hai người nhưng anh Q đều vắng mặt không lý do. Tại Biên bản xác minh ngày 01/6/2022 (BL42) thể hiện anh Nguyễn Thanh Q có nơi cư trú tại ấp VT, xã VH, huyện CT, tỉnh An Giang; Anh Nguyễn Thanh Q có thời gian đi làm công nhân ở Bình Dương, hiện nay đã trở về đại phương sinh sống tại địa chỉ trên, Tòa án không tiến hành lấy được lời khai của anh Q do anh không có mặt tại nhà vào thời điểm Tòa án đến và không gửi văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Đ.

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Đ có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn anh Q: Vắng mặt không có lý do mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ nhiều lần các văn bản tố tụng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CT phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, các đương sự cũng đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng.

Về nội dung vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Đ, giải quyết cho chị Đ được ly hôn với anh Nguyễn Thanh Q; về con chung: Tiếp tục giao cháu Tường V cho chị Đ tiếp tục nuôi dưỡng, anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Đ không yêu cầu; về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu nên không đặt ra xem xét. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Đ phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Đ và anh Thanh Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 24 tháng 6 năm 2011 tại Ủy ban nhân dân xã VH, huyện CT nên được pháp luật công nhận là vợ chồng theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Nay vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nên chị Đ yêu cầu ly hôn với anh Q. Anh Q có hộ khẩu thường trú ở ấp VT, xã VH huyện CT, tỉnh An Giang. Căn cứ theo quy định khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện CT, tỉnh An Giang.

- Về sự có mặt của đương sự: Chị Nguyễn Thị Đ có đơn xin xét xử vắng mặt, đơn xin vắng mặt của chị Đ hợp lệ nên được chấp nhận. Đối với anh Nguyễn Thanh Q là bị đơn trong vụ án, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh vẫn vắng mặt không lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan là từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình được pháp luật bảo vệ nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Đ xác nhận cuộc sống hôn nhân thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau khi cưới, vợ chồng hạnh phúc được 10 năm, đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không phù hợp nên chị Đ yêu cầu được ly hôn với anh Q.

Xét thấy, cuộc sống hôn nhân vợ chồng là nhằm xây dựng một gia đình thật sự hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc và quan tâm lẫn nhau nhưng quan hệ vợ chồng giữa chị Đ và anh Q đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn tồn tại. Tòa án tiến hành lấy lời khai của anh Q theo quy định, nhưng không lấy được lời khai do anh Q vắng mặt tại nhà (BL 43). Trong suốt quá trình giải quyết vụ án anh Q không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện ly hôn cũng như ý kiến về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng mà phía nguyên đơn đã trình bày. Mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhiều lần nhưng anh Q vẫn không có văn bản thể hiện nguyện vọng là muốn duy trì quan hệ hôn nhân với chị Đ. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định tình trạng hôn nhân của chị Đ và anh Q đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân giữa hai người không đạt được, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình nên chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Đ là được ly hôn với anh Nguyễn Thanh Q.

Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Chị Nguyễn Thị Đ thừa nhận giữa chị và anh Nguyễn Thanh Q có 01 chon chung tên Nguyễn Thị Tường V, sinh ngày 24/4/2009, mặt khác giấy khai sinh của cháu cũng đã thể hiện rõ điều này, do đó cần công nhận cháu Nguyễn Thị Tường V là con chung của chị Đ và anh Q, cháu Tường V hiện đang sống với chị Đ. Khi ly hôn, chị Nguyễn Thị Đ yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Tường V. Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi anh, chị không còn sống chung nữa thì cháu Nguyễn Thị Tường V sống với chị Đ, đồng thời Tòa án đã tiến hành lấy lời khai đối với cháu Tường V thì cháu có nguyện vọng được sống với mẹ (BL số 41). Do đó, để ổn định tâm lý và đảm bảo phát triển cuộc sống cho các cháu, mặt khác cháu Vi là con gái nên cần có sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ sẽ phù hợp hơn. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Đ là được tiếp tục nuôi cháu Vi.

Về tiền cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Đ không yêu cầu anh Nguyễn Thanh Q cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, tuy nhiên khi điều kiện kinh tế và điều kiện nuôi con có thay đổi thì các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con, cấp dưỡng trong một vụ kiện khác.

Anh Nguyễn Thanh Q có quyền tới lui, thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định pháp luật.

Về quan hệ tài sản, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Do chị Nguyễn Thị Đ có yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Thanh Q nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điều 9, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân gia đình 2014;

- Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 177, khoản 2 Điều 227, 228, Điều 271, Điều 273, 278, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Đ được ly hôn với anh Nguyễn Thanh Q. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 104/2011, quyển số 01, ngày 24/6/2011 do Uỷ ban nhân dân xã VH (huyện CT, An Giang) cấp không còn giá trị pháp lý.

2. Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Công nhận cháu Nguyễn Thị Tường V, sinh ngày 24/4/2009 là con chung của chị Nguyễn Thị Đ và anh Nguyễn Thanh Q;

+ Tiếp tục giao cháu Nguyễn Thị Tường V cho chị Nguyễn Thị Đ được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục (hiện cháu Tường V đang sống chung với chị Đ); Anh Nguyễn Thanh Q không phải cấp dưỡng nuôi con cho chị Nguyễn Thị Đ, do chị Đ không yêu cầu;

+ Chị Nguyễn Thị Đ cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở anh Nguyễn Thanh Q trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con.

+ Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

3. Về quan hệ tài sản, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

4. Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Đ phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân sơ thẩm, đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ theo biên lai thu số 0003017 ngày 11/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện CT, An Giang, được khấu trừ nên chị Đ đã nộp xong.

5. Chị Nguyễn Thị Đ và anh Nguyễn Thanh Q có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai hợp lệ theo quy định của pháp luật để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ