- Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Trần Văn C - Trần Thị Hồng N"
- Tòa quyết gì? Không công nhận ông Trần Văn C và bà Trần Thị Hồng N là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| . TỈNH TÂY NINH Bản án số: 61/2022/HNGĐ-ST Ngày: 07-12-2022 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Tảo;
2. Bà Trần Thị Bạch Tuyết.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Trúc Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vịnh, Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 206/2022/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Văn C, sinh năm 1974; vắng mặt.
Cư trú tại: tổ 11, ấp H, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh.
- Bị đơn: Bà Trần Thị Hồng N, sinh năm 1975; vắng mặt.
Cư trú tại: tổ 11, ấp H, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 03 tháng 11 năm 2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – ông Trần Văn C trình bày:
Ông và bà Trần Thị Hồng N tự nguyện chung sống vợ chồng vào năm 1996, không có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được thời gian đầu, từ năm 2021 ông bà phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi nhau, hiện tại ông bà không còn tình cảm vợ chồng. Ông yêu cầu được ly hôn với bà Nhung.
Về con chung: Ông và bà N có 02 con chung tên Trần Quốc A, sinh ngày 15/10/1997 và Trần Thị Hồng T, sinh ngày 03/8/2004, các con đã trên 18 tuổi và có khả năng tự lao động nuôi sống được bản thân nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông Trần Văn C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 14 tháng 11 năm 2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn – bà Trần Thị Hồng N trình bày:
Về hôn nhân: Bà và ông Trần Văn C tự nguyện chung sống vợ chồng vào năm 1996, không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống bà và ông C hạnh phúc được thời gian đầu, thời gian từ năm 2021 ông bà phát sinh mâu thuẫn bất đồng quan điểm, cự cãi nhau. Bà không đồng ý ly hôn với ông C.
Về con chung: Bà và ông C chung sống có 02 con chung tên Trần Quốc A, sinh ngày 15/10/1997 và Trần Thị Hồng T, sinh ngày 03/8/2004, các con đã trên 18 tuổi và có khả năng tự lao động nuôi sống được bản thân nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Thị Hồng N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn ông Trần Văn C, bị đơn bà Trần Thị Hồng N đều có đơn xin xét xử vắng mặt.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh:
Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, xác định quan hệ tranh chấp đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền và việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Ông C chung sống như vợ chồng với bà N từ năm 1996 đến nay không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, đã vi phạm Điều 9 Luật Hôn nhân gia đình nên đây là hôn nhân không được pháp luật thừa nhận. Do đó, căn cứ Điều 9, Điều 14, các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình không công nhận ông Trần Văn C và bà Trần Thị Hồng N là vợ chồng. Về con chung: Cháu Trần Quốc A, sinh ngày 15/10/1997 và Trần Thị Hồng T, sinh ngày 03/8/2004 đã trên 18 tuổi nên không đặt ra giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Ông C, bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Ông C chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:
Về tố tụng: Ông Trần Văn C, bà Trần Thị Hồng N có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông C, bà N.
Về hôn nhân: Ông Trần Văn C và bà Trần Thị Hồng N có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1996 mà không đăng ký kết hôn nên không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Căn cứ vào Điều 9, Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình, quan hệ hôn nhân giữa ông C và bà N không được pháp luật công nhận là vợ chồng.
Về con chung: Ông C và bà N có 02 con chung tên Trần Quốc A, sinh ngày 15/10/1997 và Trần Thị Hồng T, sinh ngày 03/8/2004, các con đã trên 18 tuổi và có khả năng tự lao động nuôi sống được bản thân nên ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông C và bà N không yêu cầu giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Trần Văn C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 9, Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không công nhận ông Trần Văn C và bà Trần Thị Hồng N là vợ chồng.
2. Về con chung: Ông Trần Văn C và bà Trần Thị Hồng N có 02 con chung tên Trần Quốc A, sinh ngày 15/10/1997 và Trần Thị Hồng T, sinh ngày 03/8/2004, đã trên 18 tuổi và có khả năng tự lao động nuôi sống được bản thân nên không đặt ra giải quyết.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Ông Trần Văn C và bà Trần Thị Hồng N không yêu cầu giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Trần Văn C phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông Cón đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0004109 ngày 03 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh. Ông Trần Văn C đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV.TAT (1); - VKSND huyện Tân Biên (2); - Chi cục THADS huyện Tân Biên (1); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu tập án (P). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Phƣơng |