vanban.org

Bản án 61/2022/HC-ST — Hành chính

TAND tỉnh Nghệ An Tuyên án 29/09/2022 Hành chính Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32; điểm a khoản 3 Điều 116; điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 348 Luật tố tụng hành chính;

[2] Bác yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Mạnh Đ về yêu cầu: Hủy bỏ Quyết định số 678/QĐ-UBND, ngày 09/3/2021 của Chủ tịch UBND huyện DC về việc giải quyết khiếu nại của ông Hoàng Mạnh Đ (lần đầu) và buộc Ủy ban nhân dân huyện DC, tỉnh Nghệ An ban hành quyết định thu hồi đất và quyết định phê duyệt ph…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Khiếu kiện đất đai Dan - UBND Diễn Châu"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32; điểm a khoản 3 Điều 116; điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 348 Luật tố tụng hành chính;
  • Căn cứ chính? Điều 116 Luật tố tụng hành chính; Điều 18 Luật khiếu nại; Điều 193 Luật tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2022/HC-ST
Ngày: 29/9/2022
“V/v yêu cầu hủy QĐ hành chính
trong lĩnh vực quản lý đất đai”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Cường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Bá Võ

Ông Trần Xuân Thành

Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Ngọc Quyên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đình Chung - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm vụ án hành chính thụ lý số 36/2021/HCST ngày 25/10/2021 về việc hủy quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 93/2022/QĐST-HC ngày 12 tháng 9 năm 2022 giữa các đương sự:

Người khởi kiện: Ông Hoàng Mạnh Đ, sinh năm 1961. Có mặt.

Địa chỉ: Xóm 2, xã DT, huyện DC, tỉnh Nghệ An.

Người bị kiện:

+ Chủ tịch UBND huyện DC, tỉnh Nghệ An.

+ Ủy ban nhân dân huyện DC, tỉnh Nghệ An.

Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện: Ông Lê Mạnh Hiên - chức vụ: Phó Chủ tịch UBND huyện DC. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ủy ban nhân dân xã DT, huyện DC. Đại diện: ông Hoàng Văn Vĩnh, Chủ tịch UBND xã DT. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

+ Bà Võ Thị P, sinh năm 1962; địa chỉ: xóm 2, xã DT, huyện DC, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt. (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của ông Hoàng Mạnh Đ và bà Võ Thị P: Ông Trương P, ông Trương BG. Địa chỉ: xóm 1, xã DT, huyện DC, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, người khởi kiện ông Hoàng Mạnh Đ trình bày:

Ông Chu Văn Hòa mua của UBND xã DT thửa đất số 17, tờ bản đồ số 10, diện tích trích đo UBND xã DT giao đất cho ông Hòa, chiều rộng theo Quốc lộ 1A là 10 m, chiều sâu từ chân đường Quốc lộ 1A xuống phía sau mương tiêu nước, xóm 4, xã DT. Đã được cấp giấy CNQSD đất năm 1996. Đến năm 1997, ông Đ mua lại của ông Hòa toàn bộ thửa đất theo hiện trạng, mốc giới mà UBND xã DT đã giao cho ông Hòa. Đến năm 2014, Nhà nước mở đường, thu hồi của gia đình ông 147 m2 mà mới chỉ bồi thường 45 m2, còn lại 102 m2 chưa được bồi thường.

Tương tự, ông Dương Anh Tuấn mua của UBND xã DT thửa đất số 20, tờ bản đồ số 10, diện tích trích đo UBND xã DT giao đất cho ông Tuấn, chiều rộng theo Quốc lộ 1A là 10 m, chiều sâu từ chân đường Quốc lộ 1A xuống phía sau mương tiêu nước, xóm 4, xã DT. Đã được cấp giấy CNQSD đất năm 1996. Đến năm 1998 ông Đ mua lại của ông Tuấn toàn bộ thửa đất theo hiện trạng, mốc giới mà UBND xã DT đã giao cho ông Hòa. Đến năm 2014, Nhà nước mở đường, thu hồi của gia đình ông 142,9 m2 mà mới chỉ bồi thường 45,2 m2, còn lại 98,7 m2 chưa được bồi thường.

Tổng diện tích Nhà nước thu hồi nhưng chưa bồi thường cho gia đình ông là 200,7 m2.

Khi nhận chuyển nhượng lại các thửa đất, ông Đ nhận theo mốc giới mà UBND xã DT đã giao đất cho chủ sử dụng đất trước đây. Việc sử dụng đất của gia đình ông Đ là hợp pháp, ổn định không tranh chấp, không lấn chiếm, thuộc trường hợp đủ điều kiện được bồi thường khi nhà nước thu hồi đất.

Ngày 10/8/2020, ông Hoàng Mạnh Đ đã khiếu nại đến Chủ tịch UBND huyện DC yêu cầu nhà nước bồi thường phần diện tích từ mốc PMUI đến chân công trình theo trích đo lập năm 2011 là 200,7 m2. Chủ tịch UBND huyện DC đã ban hanh Quyết định số 678/QĐ-UBND ngày 09/3/2021 giải quyết khiếu nại của ông Đ.

Không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND huyện DC cũng như việc UBND huyện DC không lập phương án bồi thường cho gia đình ông Đ 200,7 m2 đất đã thu hồi, ngày 20/3/2021 ông Hoàng Mạnh Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, yêu cầu: Hủy bỏ Quyết định số 678/QĐ-UBND ngày 09/3/2021 của Chủ tịch UBND huyện DC về việc giải quyết khiếu nại của ông Hoàng Mạnh Đ, xóm 4 xã DT, huyện DC, tỉnh Nghệ An (lần đầu); Buộc Ủy ban nhân dân huyện DC ban hành quyết định thu hồi đất; lập phương án bồi thường, hỗ trợ đối với phần diện tích thu hồi đất trong diện PMU 11 là 200,7 m2.

Đại diện theo ủy quyền của người bị kiện Chủ tịch UBND huyện DC và UBND huyện DC trình bày:

Nguồn gốc các thửa đất ông Hoàng Mạnh Đ đang sử dụng là: Thửa thứ nhất: nhận chuyển nhượng của ông Chu Văn Hòa, bà Hồ Thị Hiệp thuộc thửa đất số 771, tờ bản đồ số 112-62, có diện tích 280m2, loại đất ở và đất vườn, sử dụng từ năm 1994, có nguồn gốc UBND xã DT giao đất trái thẩm quyền có thu tiền sử dụng đất từ năm 1996 (sau ngày 21/12/1982). Trích đo thửa mới số 20, tờ bản đồ trích đo số 10, diện tích 442,0 m2; Thửa thứ hai: nhận chuyển nhượng của ông Dương Anh Tuấn, bà Nguyễn Thị Thủy thuộc thửa đất số 772, tờ bản đồ số 112-62, có diện tích 280m2, loại đất ở và đất vườn, sử dụng từ năm 1994, có nguồn gốc UBND xã DT giao đất trái thẩm quyền có thu tiền sử dụng đất từ năm 1996 (sau ngày 21/12/1982). Trích đo thửa mới số 20, tờ bản đồ trích đo số 10, diện tích 446,4 m2;

Hồ sơ chứng thực gồm có: các tài liệu liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông Hoàng Mạnh Đ.

Về phạm vi ảnh hưởng bởi dự án đối với thửa đất ông Hoàng Mạnh Đ: Theo trích đo giải phóng mặt bằng thì 2 thửa đất của ông Hoàng Mạnh Đ có tổng diện tích là 888,4 m2 trong đó diện tích bị ảnh hưởng bởi dự án nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 1A là 290,9 m2 (tính từ mép nhựa cũ đến mốc 881/QĐ-BGTVT của Bộ giao thông vận tải), trong đó:

- Diện tích đất nằm trong phạm vi đã giải tỏa của dự án PMU1 là 200,7 m2.

- Diện tích nằm ngoài phạm vi PMU1 (từ mốc PMU1 đến mốc GPMB 881) là 90,2 m2.

Phần đất ông Hoàng Mạnh Đ khiếu nại, yêu cầu bồi thường hỗ trợ qua xác minh không tìm thấy các hồ sơ, giấy tờ liên quan thể hiện việc được giao, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Kết quả xét duyệt của UBND xã DT xác định: Phần diện tích đất của ông Hoàng Mạnh Đ từ mốc PMU1 trở xuống phía đông đã được giao và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, còn phần diện tích đất từ mốc PMU1 trở lên phía Tây (đường Quốc lộ 1A) 200,7 m2 là phần diện tích không được giao và không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Căn cứ vào hồ sơ bồi thường, giải phóng mặt bằng thì UBND huyện DC đã thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ cho ông Hoàng Mạnh Đ đối với phần diện tích bị ảnh hưởng nằm ngoài phạm vi PMU1 là 90,2 m2. Phần diện tích đất nằm trong phạm vi PMU1 200,7 m2 UBND huyện DC không ban hành Quyết định thu hồi đất và ông Hoàng Mạnh Đ không được xem xét bồi thường, hỗ trợ.

Việc ông Hoàng Mạnh Đ yêu cầu UBND huyện DC ban hành quyết định thu hồi đất và quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi 200,7 m2 đất của gia đình ông là không có căn cứ để xem xét giải quyết. Đại diện UBND huyện DC đề nghị giữ nguyên Quyết định số 678/QĐ-UBND ngày 09/3/2021 của Chủ tịch UBND huyện DC về việc giải quyết khiếu nại của ông Hoàng Mạnh Đ, trú tại xóm 4 xã DT, huyện DC, tỉnh Nghệ An (lần đầu).

UBND xã DT, huyện DC trình bày:

Các thửa đất ông Hoàng Mạnh Đ đang sử dụng thuộc bản đồ số 346, sổ mục kê năm 1994 thể hiện các thửa trên thuộc thửa đất cũ số 771 và 772 tờ bản đồ số 112-62, diện tích mỗi thửa 280m2. Trích đo thửa mới là các thửa số 17 và số 20, tờ bản đồ trích đo số 10.

Phần diện tích đất của các hộ gia đình, cá nhân trong đó có hộ ông Hoàng Mạnh Đ từ mốc PMU1 trở xuống phía Đông đã được giao và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, còn phần diện tích đất từ mốc PMU1 trở lên phía Tây (đường Quốc lộ 1A) là phần diện tích không được giao và không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; cụ thể UBND xã DT xác nhận phần diện tích đất 200,7 m2 nằm trong phạm vi PMU1 thuộc thửa đất trích đo số 17 và 20, tờ bản đồ trích đo số 10, xã DT nằm trong hành lang giao thông, UBND xã DT không giao và UBND huyện DC không cấp giấy chứng nhận cho hộ ông Hoàng Mạnh Đ.

Tại phiên tòa: Người khởi kiện vẫn giữ nguyên nội dung khởi kiện vì cho rằng diện tích nhận chuyển nhượng được giao theo thực tế sử dụng. Nay thu hồi phần nào thì phải đền bù phần đó. Cụ thể là phải lập duyệt phương án bồi thường đối với phần diện tích 200,7 m2 đất của gia đình ông Hoàng Mạnh Đ do thực hiện dự án mở rộng nâng cấp Quốc lộ 1A.

Đại diện Viện kiểm sát có ý kiến về việc tuân theo quy định của pháp luật về việc thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, tài liệu, xác định tư cách của những người tham gia tố tụng. Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán đã mở phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại theo quy định của pháp luật; việc tranh tụng tại phiên toà của Hội đồng xét xử được tiến hành đúng theo quy định của Luật tố tụng hành chính. Người khởi kiện, người bị kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện quyền và chấp hành nghĩa vụ của mình đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: khoản 1, 2, 3, 4 Điều 3, Điều 30, Điều 32, khoản 2, 3 Điều 116, khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính năm 2015; Điều 42, 50 Luật Đất đai năm 2003; Điều 74, 75, 99, 204 Luật đất đai năm 2013; Điều 7 Nghị định 203/HĐBT ngày 21/12/1982 của Hội đồng Bộ trưởng về ban hành điều lệ bảo vệ đường bộ; Điều 23, Điều 20, Điều 56 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về việc hướng dẫn thi hành Luật Đất đai; Điều 12 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Điều 348 Luật tố tụng hành chính; khoản 1 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội: Bác yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Mạnh Đ Về án phí: Người khởi kiện là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên đề nghị miễn án phí hành chính sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo quy định của Luật tố tụng hành chính; thu thập tài liệu chứng cứ, mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ, đối thoại và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng.

Người bị kiện, người có quyền nghĩa vụ liên quan có đề nghị xét xử vắng mặt, Tòa án xét xử vắng mặt đương sự, theo quy định tại Điều 157, Điều 158 Luật tố tụng hành chính.

[2] Về đối tượng khởi kiện và thẩm quyền giải quyết:

Quyết định số 678/QĐ-UBND ngày 09/3/2021 của Chủ tịch UBND huyện DC về việc giải quyết khiếu nại của ông Hoàng Mạnh Đ, xóm 4, xã DT, huyện DC, tỉnh Nghệ An (lần đầu) (gọi tắt Quyết định số 667/QĐ-UBND) là quyết định hành chính do người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước ban hành trong lĩnh vực quản lý đất đai, có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Hoàng Mạnh Đ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 1, 2, 3, 4 Điều 3, 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32 Luật tố tụng hành chính.

[3] Về thời hiệu khởi kiện:

Ngày 09/3/2021 Chủ tịch UBND huyện DC ban hành quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu (Quyết định số 678/QĐ-UBND). Ngày 20/3/2021 ông Hoàng Mạnh Đ khởi kiện.

Từ ngày ông Đ nhận được quyết định giải quyết khiếu nại đến ngày ông khởi kiện chưa quá 01 năm. Thời hiệu khởi kiện đang còn theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 116 Luật tố tụng hành chính.

[4] Về tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện.

[4.1] Về trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành:

Sau khi nhận được đơn khiếu nại của 27 hộ gia đình xã DT, trong đó có đơn khiếu nại ông Hoàng Mạnh Đ (đề ngày 07/8/2020), Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện DC, tỉnh Nghệ An đã thành lập đoàn xác minh theo Quyết định số 3209/QĐ-UBND ngày 09/9/2020 thực hiện xác minh nội dung khiếu nại. Đoàn khiếu nại đã xác minh các nội dung khiếu nại. báo cáo kết quả xác minh khiếu nại của ông Hoàng Mạnh Đ. Ngày 05/3/2021, đã tổ chức đối thoại với người đại diện của ông Hoàng Mạnh Đ là ông Trương Phước và ông Trương Bạch Giang, kết quả, người khiếu nại không đồng ý với dự thảo giải quyết khiếu nại, giữ nguyên nội dung khiếu nại. Ngày 09/3/2021 Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện DC đã ban hành Quyết định số 678/QĐ-UBND giải quyết khiếu nại của ông Hoàng Mạnh Đ.

Căn cứ Điều 18, 27, 28, 29, 30, 31 Luật khiếu nại và Điều 204 Luật đất đai năm 2013, Chủ tịch UBND huyện DC ban hành Quyết định số 678 là đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền.

[4.2] Về nội dung: Ông Hoàng Mạnh Đ khiếu nại: Năm 2014, thực hiện dự án mở rộng, nâng cấp Quốc lộ 1A UBND huyện DC có thu hồi diện tích 290,9 m2 đất của gia đình ông nhưng mới bồi thường 90,2 m2, chưa bồi thường diện tích 200,7 m2 trong phạm vi PMU1. Nay ông đề nghị xem xét bồi thường, hỗ trợ diện tích 200,7 m2 trong phạm vi PMU1 đã thu hồi.

[4.2.1] Căn cứ giấy xác nhận nguồn gốc, thời gian và diện tích sử dụng do UBND xã DT xác nhận năm 2014 (kèm theo hồ sơ bồi thường giải phóng mặt bằng dự án nâng cấp, mở rộng QL1A của ông Hoàng Mạnh Đ) thể hiện: Thửa đất ông Đ đang sử dụng thuộc thửa đất số 771 và 772, tờ bản đồ số 112-62, diện tích mỗi thửa 280m2 (thửa trích đo số 17, 20, TBĐ trích đo số 10) loại đất ở và đất vườn; sử dụng từ năm 1994 đến nay không tranh chấp. (Thửa đất số 771 ông Đ nhận chuyển nhượng của ông Chu Văn Hòa năm 2011, được UBND huyện DC cấp GCNQS đất ngày 21/3/1996 mang tên ông Chu Văn Hòa, diện tích 280 m2 (trong đó 180 m2 đất ở, 100 m2 đất vườn); Thửa đất số 772 ông Đ nhận chuyển nhượng của ông Dương Anh Tuấn năm 2011, được UBND huyện DC cấp GCNQS đất ngày 05/10/2002 mang tên bà Nguyễn Thị Thủy, diện tích 280 m2 (trong đó 180 m2 đất ở, 100 m2 đất vườn).

Hồ sơ quản lý đất đai lưu trữ tại UBND xã DT là Bản đồ 364, sổ mục kê lập năm 1994 thể hiện: Thửa đất trên thuộc thửa đất cũ số 771, 772, tờ bản đồ số 112-62, diện tích mỗi thửa 280m2.

Tại Báo cáo số 71/BC-UBND ngày 23/02/2021 cho thấy UBND xã DT xác nhận phần diện tích đất của các hộ gia đình, cá nhân mua của UBND xã DT không còn lưu trữ hồ sơ, tài liệu để làm cơ sở xác định ranh giới, mốc giới, không còn sơ đồ chia lô bán đất, không có biên bản đo đất thực địa cho các hộ gia đình. Tại Biểu tổng hợp kèm theo Báo cáo số 71, UBND xã DT xác nhận phần diện tích 102,1m2 của thửa đất theo trích đo số 17, TBĐ số 10 và diện tích 98,7m2 của thửa đất theo trích đo số 20, TBĐ số 10 nằm trong phạm vi PMU1 nằm trong hành lang giao thông không giao và cấp giấy CNQSDĐ cho ông Hoàng Mạnh Đ.

[4.2.2] Tại phiên tòa, ông Hoàng Mạnh Đ thừa nhận, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp cho những người chuyển nhượng đất cho ông đều có diện tích mỗi thửa là 280 m2, nhưng việc nhận chuyển nhượng là theo thực tế hiện trạng mà người chuyển nhượng trước đây được UBND xã DT giao đất; ông Hoàng Mạnh Đ xác định: phía đông thửa đất có mương nước xây từ năm 1994 (xây trước khi giao đất cho ông các hộ chuyển nhượng cho ông sử dụng); hai bên là các hộ dân khác, ranh giới ổn định. Như vậy, việc xác định diện tích tranh chấp chưa được dền bù được ông Đ xác định là do việc xác định mốc giới phía tây (giáp với Quốc lộ 1A); sau khi nhận chuyển nhượng của UBND xã DT các hộ đó sử dụng ổn định đến khi chuyển nhượng cho gia đình ông, không có tranh chấp với ai. Tuy nhiên, ông Hoàng Mạnh Đ không cung cấp được tài liệu về việc giao đất theo thực tế trong các lần nhận chuyển nhượng.

[4.3.3] Theo hồ sơ trích đo giải phóng mặt bằng dự án mở rộng Quốc lộ 1A năm 2014, thực tế thửa đất ông Hoàng Mạnh Đ đang sử dụng có tổng diện tích là 888,4 m2 trong đó diện tích bị ảnh hưởng bởi dự án nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 1A là 290,9 m2 (tính từ mép nhựa cũ đến mốc 881/QĐ-BGTVT của Bộ giao thông vận tải), trong đó: Diện tích đất nằm trong phạm vi đã giải tỏa của dự án PMU1 là 200,7 m2; Diện tích nằm ngoài phạm vi PMU1 (từ mốc PMU1 đến mốc GPMB 881) là 90,2 m2.

Như vậy, diện tích đất ông Đ đang sử dụng tại thời điểm thu hồi đất là 888,4 m2 trừ đi diện tích ông Đ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 560 m2 bằng 328,4 m2 (Căn cứ vào Hồ sơ kỹ thuật thửa đất thuộc dự án: Nâng cấp, mở QL1A- từ xã DT đến thị trấn DC - Tên chủ sử dụng, Hoàng Mạnh Đ xóm 2, xã DT, thửa đất số 17, 20, tờ bản đồ số 10, diện tích tương ứng là 446.4 m2 và 442 m2; Trong đó, diện tích thực tế ông Hoàng Mạnh Đ sử dụng là: Thửa thứ nhất: 446,4 m2-102 m2=344,4 m2 lớn hơn diện tích trong GCNQSDĐ được UBND huyện DC cấp ngày 05/10/2002 là: 64,4 m2 (344,4 m2-280 m2). Thửa thứ hai: 442m2-98,7m2=343,3 m2 lớn hơn diện tích trong GCNQSDĐ được UBND huyện DC cấp ngày 21/3/1996 là: 63,3 m2 (343,3m2-280 m2).

Diện tích còn lại của ông Đ hiện nay lớn hơn cả phần diện tích khi nhận chuyển nhượng và được cấp GCNQSD đất (888,4 m2 – 290,9 m2 = 597,5 m2 > 560 m2). Toàn bộ diện tích tăng thêm ông Hoàng Mạnh Đ không có tài liệu nào chứng minh lý do trong khi không có tranh chấp với 03 phía xung quanh; còn phía Tây (giáp với đường Quốc lộ 1A) phần thuộc hành lang giao thông ông Đ không cung cấp được tài liệu về việc được giao đất tiếp giáp với Quốc lộ 1A. Mặt khác, quyền lợi sử dụng đất của ông Đ nếu không được bồi thường 200,7 m2 đất nằm trong hành lang giao thông theo Nghị định 203/CP ngày 21/12/1982 cũng không thiệt hại so nguồn gốc đất gia đình ông nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế.

Diện tích 200,7 m2 đất ông Hoàng Mạnh Đ khiếu nại thực tế thu hồi có vị trí là nằm trong phạm vi đất hành lang giao thông. Qua xác minh không tìm thấy các hồ sơ, giấy tờ liên quan thể hiện việc giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ. Trong khi đó UBND xã DT xác định: Phần diện tích đất của ông Hoàng Mạnh Đ từ mốc PMU1 trở xuống phía đông đã được giao và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, còn phần diện tích từ mốc PMU1 trở lên phía tây (đường quốc lộ 1A) 200,7 m2 là phần diện tích không được giao và không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Căn cứ vào diện tích đo thực tế đất ông Đ sử dụng khi thu hồi thì ý kiến của UBND xã DT xác định nêu trên là có căn cứ, đồng thời không có căn cứ kết luận năm 1994 UBND xã DT giao đất cho dân sử dụng có giao vào hành lang giao thông hay không.

Mặt khác, đất ông Tuấn và ông Hòa được UBND xã DT giao sử dụng năm 1994 là giao sau ngày 21/12/1982, UBND xã DT đã khẳng định từ mốc PMU1 trở lên phía tây (đường quốc lộ 1A) 200,7 m2 là phần diện tích không được giao là phù hợp chính sách đất đai khi giao đất ở hai bên đường 1A trên địa bàn tỉnh Nghệ An, trong đó có xã DT, huyện DC.

Như vậy, Quyết định số 678/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND huyện DC không chấp nhận khiếu nại của ông Hoàng Mạnh Đ, vì các lý do: Các thửa đất ông Hoàng Mạnh Đ sử dụng và khiếu nại thuộc các thửa số 771 và 772, tờ bản đồ 112-63 có nguồn gốc Hợp tác xã giao đất có thu tiền sử dụng đất từ năm 1994 (sau ngày 21/12/1982); Phần đất ông Hoàng Mạnh Đ khiếu nại, yêu cầu bồi thường hỗ trợ qua xác minh không tìm thấy các hồ sơ, giấy tờ liên quan thể hiện việc giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Kết quả xét duyệt của UBND xã DT xác định: Phần diện tích đất của ông Hoàng Mạnh Đ từ mốc PMU1 trở xuống phía đông đã được giao và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, còn phần diện tích từ mốc PMU1 trở lên phía tây (đường quốc lộ 1A) 200,7 m2 là phần diện tích không được giao và không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là hoàn toàn có căn cứ, phù hợp các chứng cứ có tại hồ sơ.

Điều 1 Quyết định số 678/QĐ-UBND có nội dung: “Ông Trương Bạch Giang (nhận uỷ quyền của ông Hoàng Mạnh Đ) khiếu nại UBND huyện DC yêu cầu bồi thường hỗ trợ phần đất 200,7 m2 trong phạm vi PMU1 bị thu hồi cho gia đình ông Hoàng Mạnh Đ là không có cơ sở để xem xét giải quyết” là đúng quy định pháp luật.

[4.3] Đối với yêu cầu của người khởi kiện buộc UBND huyện DC ban hành quyết định thu hồi đất và quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi 200,7 m2 của gia đình.

Như đã phân tích trên, do không có căn cứ để chấp nhận hủy Quyết định số 678/QĐ-UBND ngày 09/3/2021 của Chủ tịch UBND huyện DC về việc giải quyết khiếu nại của ông Hoàng Mạnh Đ trú tại xóm 4, xã DT, huyện DC, tỉnh Nghệ An (lần đầu), do đó cũng không có căn cứ buộc UBND huyện DC phê duyệt phương án bồi thường 200,7 m2 đất cho ông Hoàng Mạnh Đ như yêu cầu khởi kiện.

Từ những phân tích trên, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Mạnh Đ về việc hủy Quyết định số 678/QĐ-UBND ngày 09/3/2021 của Chủ tịch UBND huyện DC, cũng như buộc UBND huyện DC phê duyệt phương án bồi thường 200,7 m2 đất cho ông Hoàng Mạnh Đ.

[5] Về án phí: Yêu cầu của ông Hoàng Mạnh Đ khởi kiện không được chấp nhận nên phải chịu án phí hành chính sơ thẩm. Tuy nhiên, tại thời điểm xét xử, ông Đ là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí, nên miễn án phí hành chính sơ thẩm cho ông Đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32; điểm a khoản 3 Điều 116; điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 348 Luật tố tụng hành chính;

Điều 18, 27, 28, 29, 30, 31 của Luật khiếu nại; Điều 66, 69, 74, 75, 203 Luật Đất đai năm 2013.

Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[2] Bác yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Mạnh Đ về yêu cầu: Hủy bỏ Quyết định số 678/QĐ-UBND, ngày 09/3/2021 của Chủ tịch UBND huyện DC về việc giải quyết khiếu nại của ông Hoàng Mạnh Đ (lần đầu) và buộc Ủy ban nhân dân huyện DC, tỉnh Nghệ An ban hành quyết định thu hồi đất và quyết định phê duyệt phương án bồi thường đối với phần diện tích 200,7 m2 đất của gia đình ông Hoàng Mạnh Đ do thực hiện dự án mở rộng nâng cấp Quốc lộ 1A.

[3] Án phí: Miễn tiền án phí hành chính sơ thẩm cho ông Hoàng Mạnh Đ. Hoàn trả cho ông Hoàng Mạnh Đ số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An (tại biên lai số 0011500 ngày 19/10/2021).

[4] Quyền kháng cáo.

Các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn như sau:

Người khởi kiện có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hồ Bá Võ

Trần Xuân Thành

Trần Quốc Cường

Cỡ chữ