vanban.org

Bản án 61/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Q. Hải Châu, TP Đà Nẵng Tuyên án 30/08/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” của Công ty Tài chính TNHH N đối với ông Nguyễn Văn D. Buộc ông Nguyễn Văn D phải trả cho Công ty Tài chính TNHH N 47.465.798 đồng trong đó nợ gốc là 27.342.812 đồng, nợ lãi là 20.122.986 đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Nguyễn Văn Dũng"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HẢI CHÂU TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2022/DS-ST
Ngày: 30 - 8 - 2022
“V/v Tranh chấp hợp đồng
tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Hữu

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Trung Dũng

Ông Huỳnh Thanh Trà

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lành – Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

Ngày 30 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 68/2022/TLST-DS ngày 18 tháng 4 năm 2022 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2022/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 67/2022/QĐST-DS ngày 11 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Nguyên đơn: Công ty tài chính TNHH N. Địa chỉ: Tầng 2, Tòa nhà R, số 9 Đ, phường H, quận N, thành phố C.

Người đại diện theo pháp luật: Ông L, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên. Người đại diện theo ủy quyền của ông Giang: Bà Lê Thúy K, chức vụ: Trưởng Bộ phận hỗ trợ Xử lý tín dụng Ngoại bảng – Bộ phận Hỗ trợ xử lý tín dụng ngoại bảng – V. Địa chỉ: Tầng M, Tòa nhà Tòa nhà R, số 9 Đ, phường H, quận N, thành phố C (Theo văn bản ủy quyền số 43 ngày 06/12/2021).

Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thúy K: Ông Đinh Quốc T, địa chỉ: 89 H, phường H, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng (Theo Giấy ủy quyền không số ngày 01/3/2022). Có mặt.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1966. Địa chỉ: 08 T, phường H, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Vào ngày 05/12/2019, ông Nguyễn Văn D có ký hợp đồng tín dụng số 20191209-0000164 với Công ty tài chính TNHH N (Nay là Công ty tài chính TNHH N V) (sau đây gọi tắt là VPB SMBC FC) viết tắt là (Công ty tài chính) để vay số tiền 29,856,500 đồng với lãi suất thoả thuận 4.17%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, ông Nguyễn Văn D có trách nhiệm thanh toán số tiền 58,148,048 đồng (gồm cả gốc và lãi), trả chậm liên tiếp trong vòng 36 tháng; 35 tháng đầu, mỗi tháng trả 1,616,000 đồng, tháng cuối cùng trả 1,588,048 đồng. Bắt đầu từ ngày 12/01/2020.

Thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Văn D đã nhận đủ số tiền để tiêu dùng cá nhân và thanh toán cho VPB SMBC FC 6 lần với tổng số tiền 9,768,000 đồng (chi tiết các lần thanh toán như bảng kê lịch sử thanh toán nộp kèm theo đơn khởi kiện), bao gồm 2,513,688 đồng nợ gốc và 7,254,312 đồng nợ lãi. Kể từ ngày 12/08/2020 đến nay, ông Nguyễn Văn D không thanh toán thêm bất kỳ khoản nào dù Công ty đã dùng nhiều biện pháp nhắc nhở.

Do khách hàng trễ hạn thanh toán nên Công ty tài chính TNHH N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn D phải trả toàn bộ số tiền nợ bao gồm nợ gốc: 27.342.812 đồng, nợ lãi tạm tính đến 25/7/2022 là 20.122.986 đồng, tổng cộng 47.465.798 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Đây là vụ án tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng tín dụng giữa Công ty tài chính TNHH N với bị đơn ông Nguyễn Văn D. Bị đơn có nơi cư trú tại quận Hải Châu nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải Châu theo qui định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông Nguyễn Văn D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

Về nội dung tranh chấp:

Xét giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng ngày 05/12/2019 của Công ty tài chính TNHH N (Nay là Công ty tài chính TNHH N V) (sau đây gọi tắt là VPB SMBC FC) viết tắt là (Công ty tài chính): Đây là hợp đồng vay tài sản, thỏa mãn các điều kiện của hợp đồng theo quy định của Bộ luật dân sự và Luật các Tổ chức tín dụng nên có hiệu lực thi hành, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên tham gia giao dịch.

Xét yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính TNHH N (Nay là Công ty tài chính TNHH N V) (sau đây gọi tắt là VPB SMBC FC) viết tắt là (Công ty tài chính) thì thấy:

Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án buộc ông Nguyễn Văn D phải thanh toán số tiền gốc 27.342.812 đồng, tiền lãi tính đến ngày 25/7/2022 là 20.122.986 đồng, tổng cộng 47.465.798 đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy: Theo thỏa thuận tại Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 20191209-0000164 ngày 05/12/2019, Công ty tài chính đã cho ông Nguyễn Văn D vay số tiền 29. 856.500 đồng. Mục đích vay tiêu dùng, thời hạn vay 36 tháng, lãi suất 4.17%/tháng. Trong quá trình vay vốn, ông D đã thanh toán cho Công ty tài chính tổng cộng 06 lần với số tiền 9.768.000 đồng tính đến ngày 11/8/2020. Kể từ ngày 12/8/2020 đến nay ông D không thanh toán thêm khoản nào cho Công ty Tài chính mặc dù đã được Công ty Tài chính nhắc nhở nhiều lần. Như vậy ông D đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận đã ký giữa các bên nên Công ty tài chính khởi kiện ông Nguyễn Văn D là có cơ sở.

Căn cứ các điều 463, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về án phí:

Ông Nguyễn Văn D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng: khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng các điều 463, 466 của Bộ luật dân sự;

- Áp dụng Khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” của Công ty Tài chính TNHH N đối với ông Nguyễn Văn D.

Xử:

1. Buộc ông Nguyễn Văn D phải trả cho Công ty Tài chính TNHH N 47.465.798 đồng trong đó nợ gốc là 27.342.812 đồng, nợ lãi là 20.122.986 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người có nghĩa vụ thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

2. Về án phí: Ông Nguyễn Văn D phải chịu 2.373.290 (Hai triệu, ba trăm bảy mươi ba nghìn, hai trăm chín mươi) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Công ty Tài chính TNHH N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.209.501 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000806 ngày 08 tháng 4 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ