- Tranh chấp gì? án hình sự — "PHAN TUẤN VŨ -Phạm tội cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 61/2021/HS-ST Ngày: 12 – 3 – 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Khánh Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Thiện;
- Bà Nguyễn Thị Kim Thu.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Tấn là Thư ký của Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 30/2021/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2021/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo:
Phan Tuấn V (tên gọi khác: C), sinh năm 1990 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 718/50/4 khu phố 4, phường Hiệp Bình Phước, quận Thủ Đức (nay là thành phố Thủ Đức), Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Tuấn D (chết) và bà Huỳnh Thị Nh, sinh năm 1969; bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án: 01.
Tại bản án số 306/2014/HSST ngày 04/9/2014 của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội Cướp giật tài sản, đến ngày 11/8/2017 chấp hành xong.
Tiền sự: 01.
Ngày 06/02/2018 bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 18 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đến ngày 02/6/2019 chấp hành xong.
Nhân thân:
- Tại bản án số 119/2010/HSST ngày 25/5/2010 của Tòa án nhân dân huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 38 tháng tù về tội cướp giật tài sản.
- Ngày 12/12/2007 bị Công an phường Hiệp Bình Phước, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản, mức xử phạt 75.000 đồng (bảy mươi lăm ngàn đồng), đã nộp phạt ngày 17/12/2007.
- Ngày 05/01/2013 bị Công an quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Gây rối trật tự công cộng, mức xử phạt 750.000 đồng (bảy trăm năm mươi ngàn đồng), đã nộp phạt ngày 03/5/2013.
Bị can bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/5/2020.
Bị hại: Bà Lâm Thị Th, sinh năm 1980; thường trú tại: Ấp 4, xã Khánh Bình, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau; tạm trú: Đường Vĩnh Phú 6, khu phố Đông, phường Vĩnh Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Ngô Thị Hồng H, sinh năm 1979; trú tại: 62/85 Huỳnh Tịnh Của, phường 19, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
Người làm chứng: Ông Nguyễn Phước D và ông Nguyễn Bá V, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 16/5/2020 Phan Tuấn V điều khiển xe môtô Honda Vario màu trắng, biển số 59X3 – 216.52 lưu thông trên nhiều tuyến đường nhằm mục đích tìm kiếm người đi đường có tài sản sơ hở để cướp giật. Khi V điều khiển xe đi đến đường 4A, khu phố Phú Hội, phường Vĩnh Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương thì dừng xe lại để mua đồ ăn sáng, lúc này Vũ nhìn thấy bà Lâm Thị Th đang điều khiển xe môtô kiểu dáng Wave RX, biển số 69N1 – 146.27 chạy ngang qua, trên cổ bà Th có đeo 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng. V nảy sinh ý định cướp giật sợi dây chuyền bà Thuận đang đeo trên cổ nhằm mục đích đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Để thực hiện ý định trên, V điều khiển xe môtô chạy từ phía sau áp sát xe môtô của bà Thuận, sau đó V chạy vượt lên phía trước bên phải và nhanh chống dùng tay trái giật lấy sợi dây chuyền trên cổ bà Thuận. Khi vừa giật được sợi dây chuyền thì tay cầm xe môtô của V vướng vào tay lái xe bà Th làm cả 02 xe và người bị ngã xuống đường, sợi dây chuyền Vũ vừa mới giật được từ cổ của bà Thuận (V cầm trên tay) cũng bị rơi xuống mặt đường.
Thấy vậy bà Th liền tri hô “Cướp, cướp” có ông Nguyễn Phước D và ông Nguyễn Bá V là những người có mặt tại hiện trường hỗ trợ bắt V cùng tang vật giao cho Công An phường Vĩnh Phú xử lý.
Tang vật thu giữ gồm: 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng hình khúc ống thẻ mắt xích chữ S, dài 55,5cm, bị đứt gãy phần khoen móc; 01 xe mô tô Honda Vario màu trắng, biển số 59X3 – 216.52.
Tại Kết luận định giá tài sản ngày 22/5/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Uỷ ban nhân dân thành phố Thuận An xác định: 01 (một) sợi dây chuyền vàng 18K, hình khúc ống thẻ mắt xích, trọng lượng 2,08 chỉ có giá là 6.240.000 đồng (sáu triệu hai trăm bốn mươi nghìn đồng).
Cáo trạng số 49/CT-VKS-TA ngày 21/01/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Phan Tuấn V về tội Cướp giật tài sản theo điểm d, i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An trình bày lời luận tội trong đó có nội dung giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đề nghị áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phan Tuấn V mức hình phạt từ 04 năm tù đến 05 năm tù.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng hình khúc ống thẻ mắt xích chữ S, dài 55,5cm, bị đứt gãy phần khoen móc là tài sản của người bị hại Lâm Thị Th. Ngày 05/9/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã trả cho bà Thuận.
- Đối với xe môtô biển số 59X3 – 216.52. Qua điều tra xác định xe môtô trên thuộc sở hữu của bà Ngô Thị Hồng H. Ngày 16/5/2020 Phan Tuấn V mượn xe mô tô trên của bà Hạnh để đi công việc. Việc Tuấn dùng xe mô tô trên làm phương tiện để phạm tội bà H không biết nên ngày 05/9/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã trả lại xe cho bà Hạnh.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị hại bà Lâm Thị Th đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường nên không đề cập xử lý phần trách nhiệm dân sự.
Bị cáo Phan Tuấn V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận tội danh như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố là đúng. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là đúng quy định của pháp luật.
Về tội danh: Lời khai nhận của bị cáo Phan Tuấn V tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị hại, người làm chứng và vật chứng thu giữ trong vụ án nên có đủ cơ sở kết luận:
Vào ngày 16/5/2020 tại đoạn đường 4A, khu phố Phú Hội, phường Vĩnh Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương bị cáo Phan Tuấn V điều khiển xe môtô Honda Vario màu trắng, biển số 59X3 – 216.52 chạy từ phía sau áp sát xe và vượt lên phía trước bên phải môtô Wave RX, biển số 69N1 – 146.27 do bà Lâm Thị Th điều khiển rồi nhanh chống dùng tay trái giật lấy sợi dây chuyền vàng 18K, hình khúc ống thẻ mắt xích, trọng lượng 2,08 chỉ có giá là 6.240.000 đồng thì bị bắt giữ cùng tang vật.
Hành vi của bị cáo Phan Tuấn V điều khiển xe mô tô áp sát giật tài sản của bị hại và nhanh chóng tẩu thoát thuộc trường hợp dùng thủ đoạn nguy hiểm theo quy định tại Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ Tư pháp. Đồng thời, ngày 04/9/2014, bị cáo Phan Tuấn Vũ đã bị Toà án nhân dân quận Thủ Đức (nay là Thành phố Thủ Đức) Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội Cướp giật tài sản là tội rất nghiêm trọng chưa được xóa án tích mà lại cố ý tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội cướp giật tài sản thuộc điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là tội phạm rất nghiêm trọng theo quy định tại Điều 9 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Như vậy, bị cáo V phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đây là tình tiết định khung được quy định tại các điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo Phan Tuấn V phạm tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người đã thành niên, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do muốn nhanh chóng có tiền tiêu xài không phải bằng chính sức lao động của mình, bị cáo cố ý thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại một cách táo bạo, công khai ngay trên đường giao thông nhiều người qua lại, chứng tỏ bị cáo có thái độ liều lĩnh, xem thường pháp luật. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu, từng nhiều lần bị Tòa án xét xử và bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng không lấy dó làm bài học để rèn luyện, sửa đổi bản thân thành người có ích cho gia đình và xã hội mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo suy nghĩ lại hành vi phạm tội của mình, giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội theo quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Từ những nhận định nêu trên, đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố Thuận An đề nghị áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo như trên là phù hợp nên chấp nhận.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng hình khúc ống thẻ mắt xích chữ S, dài 55,5cm, bị đứt gãy phần khoen móc là tài sản của người bị hại Lâm Thị Th. Ngày 05/9/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã trả cho bà Thuận là phù hợp theo quy định pháp luật.
- Đối với xe môtô biển số 59X3 – 216.52. Qua điều tra xác định thuộc sở hữu hợp pháp của bà Ngô Thị Hồng H. Ngày 16/5/2020 Phan Tuấn Vũ mượn xe mô tô trên của bà H để đi công việc. Việc Tuấn dùng xe mô tô trên làm phương tiện để phạm tội bà H không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã trả lại xe cho bà H là phù hợp theo quy định pháp luật.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Lâm Thị Th không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
- Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Phan Tuấn V phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Xử phạt bị cáo Phan Tuấn V 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/5/2020.
2. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Thuận An; - Chi cục THADS thành phố Thuận An; - Cơ quan CSĐT Công an thành phố Thuận An; - Cơ quan THAHS Công an thành phố Thuận An; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Khánh Linh |