vanban.org

Bản án 61/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 13/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Thị N phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Lê Thị N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tại không giam giữ, thời hạn cải tạo không giam giữ T3 từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo Lê Thị N cho Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Cao Lãn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TRỘM CẮP TÀI SẢN - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thị N phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAO LÃNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2021/HS-ST
Ngày: 27-9-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Thanh Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Hải

Ông Lê Quang Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Kim Khuyên – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Thắng – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 85/2021/TLST-HS ngày 01 tháng 9 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 248/2021/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Thị N, sinh năm 1971, tại Đồng Tháp; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ D, ấp Đ, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới T3: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn T (chết) và bà Đinh Thị L (chết); Chồng tên Huỳnh Văn A, sinh năm 1978 và 02 con, lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 2006; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 09/3/2020 bị Công an xã T, thành phố Cao Lãnh xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, đã nộp phạt ngày 10/3/2020. Tạm giữ, tạm giam: Không có. Bị cáo đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Hồ Thị Ánh L, sinh năm 1967; Địa chỉ: Tổ T, ấp Đ, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. (Vắng mặt)

2. Võ Chí T, sinh năm 1994; Địa chỉ: Tổ K, ấp Đ, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. (Vắng mặt)

3. Lê Thị N1, sinh năm 1989; Địa chỉ: Tổ D, ấp Đ, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. (Có mặt)

4. Ngô T D, sinh năm 1970; Địa chỉ: Tổ V, ấp Đ, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. (Vắng mặt)

5. Võ Thị T, sinh năm 1987; Địa chỉ: Tổ C, ấp Đ, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. (Có mặt)

6. Lê Văn T, sinh năm 1984; Địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)

7. Lê Quốc T3, sinh năm 1984; Địa chỉ: Tổ D, ấp Đ, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 30/01/2021, bị cáo Lê Thị N cùng Hồ Thị Ánh L, Võ Chí Thành, Lê Thị N1, Ngô Thanh D, Võ Thị T1 và Lê Văn T2 đến tại phòng ngủ nhà của Lê Quốc T3, sinh năm 1984, nơi cư trú: tổ D, ấp Đ, xã T, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, để tham gia đánh bạc ăn thua bằng tiền với hình thức đánh bài binh Ấn Độ, hình thức chơi mỗi tụ chia 06 lá bài, qui ước mức đặt cược là 100.000đ/tụ/ván bài. Trong quá trình đánh bạc thì L tham gia vai trò làm tụ cái, những đối tượng còn lại thì ngồi tụ đặt cược cầm bài chơi. Bị cáo đặt tụ chung với chị T1, mỗi lần bị cáo đặt 50.000 đồng. Sau 30 phút tụ cái sẽ đưa tiền xâu bài cho Lê Quốc T3 (chủ nhà) nhận với số tiền 50.000 đồng. Đến 15 giờ 40 phút cùng ngày Công an xã T, thành phố Cao Lãnh phối hợp cùng Công an thành phố Cao Lãnh phát hiện bắt quả tang. Khi bắt quả tang thì L đã đưa cho T3 nhận tiền xâu bài tổng là 250.000 đồng nhưng T3 đã mua nước giải khát cho những người chơi đánh bạc uống hết 60.000 đồng, còn lại 190.000 đồng T3 đang cất giữ và đã giao nộp cho Công an.

Tang vật thu giữ trên chiếu bạc gồm: 01 (một) bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc chiếu đã qua sử dụng và 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Ngoài ra qua khám xét còn tạm giữ trên người những người chơi đánh bạc một số tài sản gồm: 12.000.000 đồng và 06 điện thoại di động các loại của Lê Thị N 300.000 đồng và 01 điện thoại di động Itel; Hồ Thị Ánh L 6.600.000 đồng và 01 điện thoại di động Samsung; Võ Chí T 1.600.000 đồng; Lê Thị N1 2.000.000 đồng và 01 điện thoại di động Samsung; Ngô Thanh D 600.000 đồng và 01 điện thoại di động Nokia; Võ Thị T1: Số tiền 600.000 đồng và 01 điện thoại di động Oppo; Lê Văn T2 300.000 đồng và 01 điện thoại di động Nokia.

Qua điều tra xác minh xác định 06 (sáu) điện thoại di động các loại và 6.000.000 đồng của Hồ Thị Ánh L không sử dụng vào mục đích đánh bạc nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Lãnh đã chuyển giao cho Công an xã T, thành phố Cao Lãnh giải quyết theo thủ tục hành chính.

Đối với số tiền 6.000.000 đồng thu giữ còn lại, trong quá trình điều tra L, T, N1, D, T1, T2 khai nhận mang theo trong người với mục đích sẽ sử dụng vào việc đánh bạc. Tuy N chỉ có lời thừa nhận duy nhất của từng người chơi đánh bạc, ngoài ra không còn chứng cứ nào khác để chứng minh số tiền này sẽ dùng vào việc đánh bạc. Cho nên chưa đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với L, T, N1, D, T1, T2. Tại phiên tòa, chị N1, T1 khai nhận số tiền mang theo trên người không dùng vào việc đánh bạc mà để mua đồ ăn và tiêu xài trong gia đình.

Qua điều tra xác minh xác định vào ngày 09/3/2020 bị cáo bị Công an xã T xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, đã nộp phạt ngày 10/3/2020.

Trong quá trình điều tra chứng minh và tại phiên tòa bị cáo Lê Thị N khai đã dùng 200.000 đồng dùng để đánh bạc và đã đặt trên chiếu bạc, còn lại 300.000 đồng thu được trên người bị cáo là tiền bị cáo dùng để đi chợ mua đồ ăn cho gia đình nên bị cáo không đặt trên chiếu bạc.

Như vậy, xác định số tiền bị cáo và các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc thu được trên chiếu bạc 800.000 đồng.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Viện kiểm sát truy tố, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo khai nhận đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bài ăn thua bằng tiền 1.500.000 đồng đã nộp phạt, không có khiếu nại gì đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính của Công an xã T.

Bản cáo trạng số 87/CT_VKS_TPCL ngày 31-8-2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp truy tố Lê Thị N về tội “ Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như Cáo Trạng đã nêu. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Thị N phạm tội “Đánh bạc”. Áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 36, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo với mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ.

Bị cáo là lao động làm thuê, thu nhập không ổn định. Hiện nay, do ảnh hưởng của tình hình dịch bệnh Covid kéo dài nhiều tháng, bị cáo không có việc làm, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên miễn khấu trừ thu nhập hàng tháng của bị cáo.

Buộc bị cáo Lê Thị N phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ theo quy định tại Điều 36 Bộ luật Hình sự và bị cáo N phải thực hiện những nghĩa vụ quy định của Luật Thi hành án Hình sự.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Thị N.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu nộp ngân sách nhà nước tổng cộng 990.000 đồng: Trong đó 800.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc và 190.000 đồng tiền thu lợi bất chính; Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tây loại 52 lá và 01 chiếc chiếu đã qua sử dụng.

+ Trả lại số tiền 5.700.000 đồng đã thu giữ do chưa đủ căn cứ chứng minh được dùng vào đánh bạc gồm: Hồ Thị Ánh L 600.000 đồng; Võ Chí T 1.600.000 đồng; Lê Thị N1 2.000.000 đồng; Ngô Thanh D 600.000 đồng; Võ Thị T1 600.000 đồng; Lê Văn T2 300.000 đồng. Riêng số tiền 300.000 đồng đã thu giữ của bị cáo Lê Thị N tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

Đối với Hồ Thị Ánh L, Võ Chí T, Lê Thị N1, Ngô Thanh D, Võ Thị T1, Lê Văn T2 đã có hành vi tham gia đánh bạc trái phép được thua bằng tiền và Lê Quốc T3 đã sử dụng nhà ở của mình để tổ chức đánh bạc thu lợi bất chính nhưng xét về nhân thân họ chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, đồng thời số tiền đánh bạc lần này chưa đủ yếu tố cấu thành tội đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Lãnh đã chuyển hồ sơ về Công an xã T, thành phố Cao Lãnh để xử phạt hành chính là phù hợp quy định pháp luật.

Nói lời sau cùng tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hồ Thị Ánh L, Võ Chí T, Ngô Thanh D, Lê Văn T2 những người này đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử xét thấy sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc xét xử và lời khai của những người này đã có trong hồ sơ vụ án nên căn cứ vào Điều 292 và Điều 299 Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt họ tại phiên tòa.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Lãnh, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ trong quá trình điều tra, truy tố, đúng như nội dung bản cáo trạng đã mô tả và được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản ghi lời khai, cùng toàn bộ các tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở kết luận: Ngày 30/01/2021, bị cáo Lê Thị N thực hiện hành vi đánh bạc với hình thức bài binh Ấn độ, ăn thua bằng tiền tại chỗ ở của Lê Quốc T3 có địa chỉ tại Tổ 4, ấp Đ, xã T, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp cùng Hồ Thị Ánh L, Võ Chí T, Lê Thị N1, Ngô Thanh D, Võ Thị T1, Lê Văn T2, số tiền trên chiếu bạc là 800.000 đồng. Bị cáo Lê Thị N đã bị Công an xã T, thành phố Cao Lãnh xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc theo quyết định số 28/QĐ-XPVPHC ngày 09/3/2020, đã nộp phạt xong. Theo quy định tại Điều 7 Luật xử lý vi phạm hành chính, cá nhân bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính mà không tái phạm thì được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Như vậy, đến ngày 30/01/2021 bị cáo tham gia đánh bạc ăn thua bằng tiền là chưa hết thời hiệu bị coi là chưa bị xử lý hành chính.

Viện kiểm sát truy tố và luận tội đối với bị cáo Lê Thị N về tội đánh bạc là có căn cứ.

Bị cáo là người đã thành niên, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật, nhận thức rõ hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng vẫn tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền thu giữ trên chiếu bạc 800.000 đồng như vậy bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý và đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng.

Từ những cơ sở trên, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Thị N đã phạm tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm....”

Xét T3 chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Lê Thị N phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại trực tiếp đến trật tự, an toàn công cộng, ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt bình thường của những người dân tại địa phương, không những thế mà còn ảnh hưởng đến nếp sống văn minh của xã hội, hành vi đánh bạc các bị cáo còn là một tệ nạn cần phải xóa bỏ. Bị cáo là người đã thành niên, có sức khỏe, đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc nên nhận thức rõ hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng đối với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra nhằm tạo điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt đồng thời nhằm răn đe giáo dục, phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo ăn năn, hối cải, có 02 tình tiết giảm nhẹ thuộc khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà có thể cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội theo quy định tại Điều 36 Bộ luật Hình sự cũng đủ để giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về khấu trừ thu nhập: Bị cáo là lao động làm thuê. Hiện nay không có việc làm, thu nhập gì nên miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo nhưng cần áp dụng khoản 4 Điều 36 Bộ luật Hình sự buộc bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động công ích để phục vụ cộng đồng là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tây loại 52 lá và 01 chiếc chiếu đã qua sử dụng. (Hiện vật chứng trên do Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh đang tạm quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/9/2021).

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: Số tiền tổng cộng 990.000 đồng: Trong đó 800.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc và 190.000 đồng tiền thu lợi bất chính (theo giấy nộp tiền vào tài khoản của Công an thành phố Cao Lãnh ngày 01/6/2021).

Trả lại cho Hồ Thị Ánh L 600.000 đồng; Võ Chí T 1.600.000 đồng; Lê Thị N1 2.000.000 đồng; Ngô Thanh D 600.000 đồng; Võ Thị T1 600.000 đồng; Lê Văn T2 300.000 đồng. Tổng cộng số tiền trả lại là 5.700.000 đồng. Tiếp tục quản lý số tiền 300.000 đồng của Lê Thị N để đảm bảo thi hành án (theo giấy nộp tiền vào tài khoản của Công an thành phố Cao Lãnh ngày 01/6/2021).

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Đối với Hồ Thị Ánh L, Võ Chí T, Lê Thị N1, Ngô Thanh D, Võ Thị T1, Lê Văn T2 đã có hành vi chơi bài binh Ấn độ ăn thua bằng tiền và Lê Quốc T3 đã sử dụng nhà ở của mình để tổ chức đánh bạc thu lợi bất chính, quá trình điều tra xác định các đối tượng chưa có tiền án, tiền sự, số tiền dùng đánh bạc chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự, Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ về Công an xã T, thành phố Cao Lãnh để xử phạt hành chính theo đúng quy định pháp luật là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lê Thị N phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Lê Thị N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tại không giam giữ, thời hạn cải tạo không giam giữ T3 từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Lê Thị N cho Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.

Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Lê Thị N.

Buộc bị cáo Lê Thị N phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 4 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần. Bị cáo Lê Thị N phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án Hình sự.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tây loại 52 lá và 01 chiếc chiếu đã qua sử dụng. (Hiện vật chứng trên do Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh đang tạm quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/9/2021).

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: Số tiền tổng cộng 990.000 đồng: Trong đó 800.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc và 190.000 đồng tiền thu lợi bất chính (theo giấy nộp tiền vào tài khoản của Công an thành phố Cao Lãnh ngày 01/6/2021).

Trả lại cho Hồ Thị Ánh L 600.000 đồng; Võ Chí T 1.600.000 đồng; Lê Thị N1 2.000.000 đồng; Ngô Thanh D 600.000 đồng; Võ Thị T1 600.000 đồng; Lê Văn T2 300.000 đồng. Tổng cộng số tiền trả lại là 5.700.000 đồng. Tiếp tục quản lý số tiền 300.000 đồng của Lê Thị N để đảm bảo thi hành án (theo giấy nộp tiền vào tài khoản của Công an thành phố Cao Lãnh ngày 01/6/2021).

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lê Thị N phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ