vanban.org

Bản án 61/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 8, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 24/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 16/01/2021. Tiếp tục lưu theo h sơ vụ án: 02 đĩa VCD ; 01 USB hiệu Toshiba màu trắng, dung lượng 8GB được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 bảo quản trong một bì thư niêm phong, dán kín. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "61. Nguyễn Hoàng T - 173 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61 /2021/HS-ST
Ngày 24 - 3 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thanh Vân – Giáo viên, cán bộ hưu trí Phường 12, Quận 8.

2. Bà Thái Thục Hiền – Cán bộ hưu trí Phường 4, Quận 8.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Sơn Tùng – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông ĐỗVăn Khá - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố H Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2021/TLST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2021/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2021, đối với bị cáo:

Nguyễn Hoàng T (tên gọi khác: Beo); đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có độ tuổi từ trên 16 tuổi 06 tháng đến dưới 17 tuổi, nơi sinh tại Thành phố H Chí Minh; nơi cư trú: Không có nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Không rõ tên cha mẹ; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/01/2021 đến nay. (có mặt)

Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Bà Nguyễn Thúy P – Bí thư Đoàn TNCS H Chí Minh Phường N, Quận T, Thành phố H Chí Minh. (có mặt)

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trịnh Bá T – Luật sư Văn phòng Luật sư Trịnh Bá T, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H Chí Minh. (có mặt)

Bị hại:

1. Chị Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm: 1993; nơi cư trú: (Hộ khẩu thường trú: 33 N.T.H, phường C, Quận N, Thành phố H Chí Minh; chỗ ở: 2385/87/33 P.T.H, Phường S, Quận T, Thành phố H Chí Minh). (vắng mặt)

2. Anh Nguyễn Hữu M, sinh năm: 1997; nơi cư trú: 122/133 P.Đ, Phường H, Quận T, Thành phố H Chí Minh. (vắng mặt)

3. Anh Trần Quốc N, sinh ngày: 29/4/2002; nơi cư trú: 432B/20C D.B.T, Phường N, Quận T, Thành phố H Chí Minh. (vắng mặt)

4. Anh Hứa Minh A, sinh năm: 1986; nơi cư trú: 181/102 A.D.L, Phường C, Quận T, Thành phố H Chí Minh. (vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Anh Lê Thanh G, sinh năm: 1987; nơi cư trú: 352/269 N.D, Phường U, Quận T, Thành phố H Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài nên Nguyễn Phùng Thanh D rủ Nguyễn Hoàng T đi tìm tài sản sơ hở để trộm cắp lấy tiền tiêu xài thì T đ ng ý. Khoảng 02 giờ ngày 21/9/2020, D điều khiển xe mô tô Honda Wave, biển số 59L3 - 004.54 phía sau chở T đi lòng vòng tìm tài sản để trộm cắp. Khi đến trước cửa hàng F.M số 817 T.Q.B, Phường N, Quận T, Thành phố H Chí Minh; T phát hiện 01 xe mô tô Honda Click, màu trắng, biển số 59S1 - 015.57 của bà Nguyễn Thị Thúy H, phía trước xe có treo 01 túi xách màu đen của ông Nguyễn Hữu M, xe không khóa cổ và không người trông coi nên T kêu D quay đầu xe lại để cảnh giới cho T lấy trộm chiếc xe trên. Sau đó, T đi bộ đến dắt chiếc xe ra ngoài, T ng i trên chiếc xe vừa trộm cắp được cho D điều khiển xe Honda Wave, biển số 59L3 - 004.54, đẩy T về nhà bạn của D tên Lê Thanh G tại số 352/269 N.D, Phường U, Quận T, Thành phố H Chí Minh để bán.

D và T kiểm tra túi xách thì phát hiện bên trong có 01 đ ng h đeo tay nam hiệu Calvin Klein, 01 đ ng h đeo tay nữ hiệu Julius, 01 bộ đ Công an nhân dân, 01 bộ quân hàm thiếu úy, 01 bảng tên Công an nhân dân, 01 bóp da bên trong có: 01 thẻ ngành Công an nhân dân, 06 tấm ảnh Công an nhân dân, 02 giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Hữu M và số tiền 100.000 đ ng. Sau đó, D và T lấy 100.000 đ ng và bán lại chiếc xe vừa trộm cắp được cho G với giá 1.300.000 đ ng, 02 đ ng h đeo tay với giá 500.000 đ ng còn những đ vật còn lại D và T bỏ lại trong túi xách và đem vứt vào trong thùng rác tại trước nhà số 204/29 C.X.D, Phường A, Quận T, Thành phố H Chí Minh. Có được tiền, T chia cho D 1.000.000 đ ng, T hưởng 900.000 đ ng. Sau khi phát hiện bị mất trộm tài sản, ông Nguyễn Hữu M đến Công an phường trình báo sự việc.

Ngày 02/10/2020, Hội đ ng định giá tài sản Quận 8 có kết luận định giá xác định trị giá 01 xe mô tô hiệu Honda Click, màu trắng đen, biển số 59S1-015.57, số khung XAY-803334, số máy JF18E-0257111, qua khảo sát thực tế tài sản có giá là 7.000.000 đ ng. 01 đ ng h đeo tay nam, hiệu Calvin Klein, màu trắng, mặt kính màu xanh, dây kim loại và 01 đ ng h đeo tay nữ, Julius, màu trắng, dây kim loại là hàng xách tay, không có hóa đơn chứng từ mua bán nên không có cơ sở định giá.

Ngày 25/9/2020, Lê Thanh G tự nguyện giao nộp chiếc xe mô tô Honda Click biển số 59S1 – 015.57 và 02 chiếc đ ng h nêu trên. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8, G khai nhận khi mua tài sản nêu trên thì không biết đây là số tài sản do người khác phạm tội mà có.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 xác định Nguyễn Hoàng T còn thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản khác trên địa bàn Quận 8, cụ thể như sau:

* Vụ thứ nhất: Khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 18/10/2020, Nguyễn Hoàng T phát hiện tại nhà số 432A/21 D.B.T, Phường N, Quận T, Thành phố H Chí Minh cửa nhà mở không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp. Sau đó, T lén lút đi vào nhà lấy 01 laptop hiệu MSI và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus để trên bàn tại tầng trệt mang ra ngoài thì bị ông Trần Quốc N tri hô đuổi bắt, trên đường tẩu thoát T bỏ lại chiếc laptop. T mang bán chiếc điện thoại di động cho 01 nam thanh niên (không rõ lai lịch) ở khu vực chợ P.T.H, Phường B, Quận T, Thành phố H Chí Minh được 1.000.000 đ ng và tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 05/11/2020, Hội đ ng định giá tài sản Quận 8 có kết luận định giá xác định trị giá chiếc laptop hiệu MSI là 9.000.000 đ ng, chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus là 4.800.000 đ ng.

* Vụ thứ hai: Khoảng 17 giờ ngày 15/01/2021, Nguyễn Hoàng T đi bộ lòng vòng quanh khu vực Phường N, Quận T, Thành phố H Chí Minh tìm tài sản sơ hở để trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khi đến trước số 181/102 A.D.L, Phường C, Quận T, Thành phố H Chí Minh, T phát hiện chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha, biển số 59C1 – 184.94 của ông Hứa Minh A dựng trước nhà, trên xe còn cắm chìa khoá, không người trông coi nên T đi bộ đến leo lên xe r i nổ máy tẩu thoát. Lúc này, ông Đặng Văn Th phát hiện sự việc liền tri hô và chạy bộ đuổi theo. Trên đường bỏ chạy, T bị ngã xe nên T bỏ lại chiếc xe trên r i chạy bộ tẩu thoát. Sau đó, ông Th về nhà lấy xe mô tô chạy đi tìm T, khi đến đầu hẻm số 306 D.B.T, Phường N, Quận T, Thành phố H Chí Minh thì phát hiện T nên đã phối hợp cùng với đ ng chí Phạm Minh Phước - Cán bộ đội Cảnh sát giao thông Đa Phước bắt T và bàn giao cho Công an Phường 1, Quận 8, Thành phố H Chí Minh xử lý.

Ngày 20/01/2021, Hội đ ng định giá tài sản Quận 8 có kết luận định giá xác định chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha, biển số 59C1 – 184.94 trị giá là 7.500.000 đ ng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8, Nguyễn Hoàng T và Nguyễn Phùng Thanh D đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên.

Vật chứng vụ án:

- 01 xe mô tô Honda Click, màu trắng, biển số 59S1 - 015.57; 01 đ ng h đeo tay nữ hiệu Julius thuộc quyền sở hữu của bà Nguyễn Thị Thúy H. Ngày 08/01/2021, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà H.

- 01 đ ng h đeo tay nam hiệu Calvin Klein là của ông Nguyễn Hữu M. Ngày 25/10/2020, Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông M.

- 01 xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha, biển số 59C1 – 184.94 do ông Hứa Minh A đứng tên chủ sở hữu. Ngày 08/02/2020, Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông T.

- 02 đĩa VCD chứa đoạn ghi hình liên quan đến vụ trộm cắp tài sản xảy ra ngày 21/9/2020 tại trước số 817 T.Q.B, Phường N, Quận T, Thành phố H Chí Minh.

- 01 USB hiệu Toshiba màu trắng, dung lượng 8GB chứa đoạn ghi hình liên quan đến vụ trộm cắp tài sản xảy ra ngày 18/10/2020, tại nhà số 432A/21 D.B.T, Phường N, Quận T, Thành phố H Chí Minh.

Trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị Thúy H, ông Nguyễn Hữu M, ông Hứa Minh A đã nhận lại tài sản và không yêu cầu b i thường gì thêm.

Ông Trần Quốc N đã nhận lại chiếc laptop hiệu MSI và yêu cầu b i thường số tiền 6.000.000 đ ng là trị giá chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus bị mất.

Tại bản Cáo trạng số 62/CT-VKS ngày 24/02/2021 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố H Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng T về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố H Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Hoàng T về tội “Trộm cắp tài sản”. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, Viện kiểm sát đề nghị Hội đ ng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, các điều 91, 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 15 tháng tù; do bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng thu giữ và trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng cho các bị hại Nguyễn Thị Thúy H, Nguyễn Hữu M, Hứa Minh A, các bị hại không có yêu cầu nên không giải quyết. Bị hại Trần Quốc N đã nhận lại chiếc laptop hiệu MSI và yêu cầu bị cáo b i thường số tiền 6.000.000 đ ng là trị giá chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus bị mất không thu h i lại được nên đề nghị buộc bị cáo b i thường số tiền 6.000.000 đ ng cho bị hại Trần Quốc N.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày lời bào chữa: Thống nhất với tội danh và điều khoản mà Viện kiểm sát áp dụng để truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đ ng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo như: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự. Phần lớn tài sản chiếm đoạt đã được thu h i để trả cho các bị hại. Bị cáo có số phận không may mắn, cha mẹ không biết ở đâu, hoàn cảnh khó khăn, không người thân thích phải sống lang thang, bị cáo không được học hành, tự bươn chải kiếm sống. Bị cáo là người chưa đủ 18 tuổi nên khả năng nhận thức chưa đầy đủ. Do đó, đề nghị Hội đ ng xét xử áp dụng các điều 91, 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét quyết định mức hình phạt khoan h ng nhất, cho bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm và sớm hòa nhập cộng đ ng, làm công dân có ích cho xã hội. Đề nghị Hội đ ng xét xử xem xét áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cho bị cáo hưởng mức án thấp hơn mức án Viện kiểm sát đề nghị.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo là bà Nguyễn Thúy P – Bí thư Đoàn TNCS H Chí Minh Phường N, Quận T, Thành phố H Chí Minh không có ý kiến tranh luận, đề nghị Hội đ ng xét xử xem xét quyết định mức hình phạt khoan h ng nhất, cho bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm và sớm hòa nhập cộng đ ng làm công dân có ích cho xã hội; bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong h sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 8, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai các bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong h sơ vụ án, xác định vào khoảng 14 giờ ngày 21/9/2019, tại trước nhà ở số 98/28A Hoài Thanh, Phường 14, Quận 8, Thành phố H Chí Minh, bị cáo Từ Phạm Hải Bằng có hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc xe gắn máy hiệu Honda Future biển số 59L2-220.20 của anh Huỳnh Văn Nở có giá trị là 11.200.000 đ ng. khoảng 02 giờ ngày 21/9/2020, tại trước cửa hàng F.M số 817 T.Q.B, Phường N, Quận T, Thành phố H Chí Minh, bị cáo Nguyễn Hoàng T cùng Nguyễn Phùng Thanh D có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô Honda Click, biển số 59S1 - 015.57 của bà Nguyễn Thị Thúy H, có giá trị là 7.000.000 đ ng và của ông Nguyễn Hữu M số tiền 100.000 đ ng; và 01 túi xách trong đó g m: 01 đ ng h đeo tay nam, hiệu Calvin Klein, màu trắng, mặt kính màu xanh, dây kim loại và 01 đ ng h đeo tay nữ, Julius, màu trắng, dây kim loại là hàng xách tay, tất cả các tài sản trong túi xách này không có hóa đơn chứng từ mua bán nên không có cơ sở định giá.

Ngoài ra, vào khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 18/10/2020, tại nhà số 432A/21 D.B.T, Phường N, Quận T, Thành phố H Chí Minh, bị cáo Nguyễn Hoàng T có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của ông Trần Quốc N g m 01 laptop hiệu MSI có giá trị là 9.000.000 đ ng và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus có giá trị là 4.800.000 đ ng.

Tiếp theo, vào khoảng 17 giờ ngày 15/01/2021, tại trước số 181/102 A.D.L, Phường C, Quận T, Thành phố H Chí Minh, bị cáo Nguyễn Hoàng T có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha, biển số 59C1 – 184.94 của ông Hứa Minh A có giá trị là 7.500.000 đ ng.

Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt của các bị hại là 18.600.000 đ ng.

Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội “Trộm cắp tài sản” như sau:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”

Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Như vậy, Hội đ ng xét xử có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Trong thời gian ngắn bị cáo đã thực hiện ba hành vi phạm tội liên tiếp thể hiện mức độ nguy hiểm của bị cáo và thái độ xem thường pháp luật, thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là có cơ sở, đúng người, đúng tội. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nên có căn cứ chấp nhận.

Bị cáo là người chưa đủ 18 tuổi, do đó Hội đ ng xét xử áp dụng các điều 91, 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét, quyết định hình phạt đối với bị cáo. Mặt khác, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Trong lần trộm cắp thứ nhất và thứ hai: tài sản đã được thu h i trả lại cho bị hại; lần trộm cắp thứ ba: tài sản đã được thu h i 1 phần trả lại cho bị hại. Vì vậy, Hội đ ng xét xử áp dụng các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung, do bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên Hội đ ng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Lời bào chữa của người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đ ng xét xử áp dụng Điều 54 cho bị cáo là chưa có căn cứ để chấp nhận. Xét đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đ ng xét xử nên có căn cứ chấp nhận.

Về vật chứng vụ án và trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả tài sản cho các bị hại Nguyễn Thị Thúy H, Nguyễn Hữu M, Hứa Minh A. Đ ng thời, các bị hại không ý kiến, yêu cầu gì liên quan đến việc tạm giữ, xử lý vật chứng nên không đề cập giải quyết.

Bị hại Trần Quốc N đã nhận lại chiếc laptop hiệu MSI và yêu cầu bị cáo b i thường số tiền 6.000.000 đ ng là trị giá chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus bị mất không thu h i lại được. Xét thấy, thiệt hại xảy ra là do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, tại phiên tòa bị cáo đ ng ý b i thường theo yêu cầu của bị hại. Do đó, Hội đ ng xét xử căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 589 Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo b i thường thiệt hại cho bị hại.

02 đĩa VCD chứa đoạn ghi hình liên quan đến vụ trộm cắp tài sản xảy ra ngày 21/9/2020 tại trước số 817 T.Q.B, Phường N, Quận T, Thành phố H Chí Minh; 01 USB hiệu Toshiba màu trắng, dung lượng 8GB chứa đoạn ghi hình liên quan đến vụ trộm cắp tài sản xảy ra ngày 18/10/2020, tại nhà số 432A/21 D.B.T, Phường N, Quận T, Thành phố H Chí Minh nên tiếp tục lưu theo h sơ vụ án.

Đối với hành vi của Lê Thanh G do không biết đây là tài sản do người khác phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 không xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với người thanh niên mua chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus do chưa xác định được lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục truy xét, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với Nguyễn Phùng Thanh D hiện nay đã bỏ trốn. Cơ quan điều tra đã tiến hành tách vụ án và tạm đình chỉ điều tra vụ án, tạm đình chỉ điều tra bị can đối với Nguyễn Phùng Thanh D, khi bắt được sẽ phục h i xử lý sau.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, các Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 16/01/2021.

- Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tiếp tục lưu theo h sơ vụ án: 02 đĩa VCD ; 01 USB hiệu Toshiba màu trắng, dung lượng 8GB được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 bảo quản trong một bì thư niêm phong, dán kín.

- Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu và lưu giữ theo h sơ vụ án 01 USB hiệu Kingstone màu đỏ, dung lượng 8GB; được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 bảo quản trong một bì thư niêm phong, dán kín.

- Căn cứ vào Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các điều 357, 468, 589 của Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng T b i thường cho anh Trần Quốc N số tiền là 6.000.000 (sáu triệu) đ ng, thi hành ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

- Căn cứ vào các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo nộp 200.000 đ ng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đ ng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ