vanban.org

Bản án 61/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương Tuyên án 24/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội "Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy"; các bị cáo Phạm Văn K, Phạm Văn Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

1. Xử phạt bị cáo Trần Văn C 7 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 23/5/2021. 2. Xử phạt bị cáo Phạm Văn K 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 23/5/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn C phạm tội chứa chấp sử dụng trái phép chất ma tuy - phạm tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256 Luật sửa đổi,…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội "Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy"; các bị cáo Phạm Văn K, Phạm Văn Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 256 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỨ KỲ - TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2021/HS- ST
Ngày: 24- 11 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ - TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tú.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thanh Hải.

2. Ông Phạm Xuân Sang.

- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Văn Việt, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 58/2021/TLST- HS ngày 01 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2021/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 11 năm 2021; đối với các bị cáo:

1. Trần Văn C, sinh năm 1990 tại huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương; Nơi ĐKHKTT: Khu A, thị trấn T, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương; Chỗ ở hiện nay: Thôn L, xã V, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T và con bà Nguyễn Thị C; vợ Nguyễn Thị T, có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam từ ngày 23/5/2021 đến nay (hiện đang bị tạm giam tại trại giam Công an tỉnh Hải Dương). Có mặt.

2. Phạm Văn Đ, sinh năm 1991 tại huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương; Nơi cư trú: Thôn A, xã A, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn N và con bà Phạm Thị S; vợ Nguyễn Thị N (đã ly hôn), có 01 con; tiền án: Bản án số 98/2018/HSPT ngày 29/10/2018 của TAND tỉnh Hải Dương xử phạt 07 tháng tù về tội "Cố ý làm hư hỏng tài sản", ngày 29/5/2019 chấp hành xong hình phạt tù. Nhân thân: Tại Quyết định số 318/QĐ- UBND ngày 03/02/2012 của Chủ tịch UBND huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng, ngày 30/01/2014 chấp hành; Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 177/QĐ-XPVPHC ngày 25/7/2018 của Công an huyện Tứ Kỳ xử phạt về hành vi "Đánh nhau", hình thức xử phạt: 750.000 đồng, đã chấp hành nộp phạt xong ngày 27/7/2018; Bị bắt tạm giam từ ngày 23/5/2021 đến nay (hiện đang bị tạm giam tại trại giam Công an tỉnh Hải Dương). Có mặt.

3. Phạm Văn K, sinh năm 1991 tại huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Thôn T, xã A, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn N và con bà Phạm Thị Đ; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại bản án số 33/2014/HSST ngày 19/8/2014, TAND huyện Tứ Kỳ xử phạt 24 tháng về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản", ngày 27/3/2016 chấp hành xong hình phạt tù, đã chấp hành xong tiền án phí, tiền phạt. Bị bắt tạm giam từ ngày 23/5/2021 đến nay (hiện đang bị tạm giam tại trại giam Công an tỉnh Hải Dương). Có mặt.

Người làm chứng: Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1988; anh Bùi Văn P, sinh năm 1991; đều trú tại: Thôn M, xã V, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.

Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn Đ, xã C, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương;

Anh Phạm Đình Đ, sinh năm 1984; chị Vũ Thị L, sinh năm 1985; anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1973; đều trú tại: Thôn L, xã V, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.

Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn A, xã N, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.

Anh Phạm Văn N, sinh năm 1965; anh Phạm Xuân P, sinh năm 1960; đều trú tại: Thôn T, xã A, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.

(Những người làm chứng vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Văn Đ, Phạm Văn K, Trần Văn C có mối quan hệ quen biết xã hội. Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 18/5/2021, Đ điều khiển xe mô tô YA MAHA SIRIUS, màu sơn đen trắng gắn biển số 34B1-293.54 (là xe Đ mượn của anh Nguyễn Văn V) chở K đi từ nhà ở của K ra đến tỉnh lộ 391 thuộc xã V thì gặp C đi giao gà cho khách, hai bên dừng xe nói chuyện. Tại đây, K trả cho C số tiền 1.500.000 đồng vay C trước đó. K đưa cho Đ vay số tiền 2.000.000 đồng thời đưa 3.000.000 đồng cho Đ bảo Đ đi mua ma túy tổng hợp dạng đá về để K lấy một nửa và cho Đ một nửa ma túy để sử dụng. Sau đó, K lên xe C chở đi lấy giấy tờ xe ở thôn C, xã Q, huyện Tứ Kỳ, Đ điều khiển xe đến khu vực công ty BaiHong thuộc xã N gặp một người đàn ông không quen biết mua ma túy dạng đá với số tiền 2.500.000 đồng được đựng trong một túi nilon màu trắng kích thước 2,5x2cm. Đ cầm túi ma túy cất giấu vào túi quần phía trước bên phải đang mặc và điều khiển xe về. Trên đường về Đ nhắn tin bằng tài khoản Zalo "Đinh Pham" của mình đến tài khoản Zalo "Pham Van Kien" của K nói đã mua được ma túy. K nhắn lại bảo Đ bọc ma túy lại vứt vào vườn nhà K để K lấy sau. Trên đường đi đến nhà K, Đ nhặt được 01 hộp bìa cứng màu trắng và 02 túi nilon màu xanh, Đ xẻ một nửa số ma túy mua được vào 01 túi nilon màu xanh cất vào túi quần phía trước bên phải đang mặc. Số ma túy còn lại trong túi nilon màu trắng Đ cho vào hộp bìa cứng màu trắng rồi bọc túi nilon xanh bên ngoài rồi đi đến góc vườn lối rẽ vào cổng nhà K ném túi nilon màu xanh chứa ma túy vào góc vườn nhà K rồi nhắn tin Zalo cho K biết. Sau đó, Đ điều khiển xe đi đến cửa hàng gà tươi mạnh hoạch của C ở thôn L, xã V, huyện Tứ Kỳ (cửa hàng này C thuê của vợ chồng anh Phạm Đình Đ và chị Vũ Thị L, trú tại thôn L, xã V, huyện Tứ Kỳ). Khi đến nơi khoảng 21 giờ cùng ngày, lúc này chỉ có C ở cửa hàng. Khoảng 23 giờ Đ bỏ túi ma túy dạng đá ra để Đ và C cùng sử dụng. C cầm bộ dụng cụ sử dụng ma túy ra, Đ bỏ một ít ma túy đá vào bầu coóng, số còn lại vẫn cất giấu trong túi quần. Đ và C cùng nhau sử dụng ma túy. Đến 06 giờ 30 phút sáng ngày 19/5/2021 C đi đến xã H, huyện Tứ Kỳ thăm vợ con, Đ ở lại cửa hàng của C. Khoảng 09 giờ sáng ngày 19/5/2021 có Hoàng Văn T, sinh năm 1988 ở thôn M, xã V, huyện Tứ Kỳ đến quán của C, gọi điện cho C mở cửa, C không ở cửa hàng nên đã gọi điện bảo Đ mở cửa cho T vào. T vào trong nhà hàng thì thấy bộ sử dụng ma túy tại bầu coóng đã có sẵn ma túy nên đã tự động sử dụng ma túy. Khoảng 10 giờ cùng ngày thấy bầu coóng vẫn còn ma túy nên Đ đã châm lửa sử dụng hết. Khoảng 12 giờ trưa cùng ngày C về quán, lúc này Đ tiếp tục đổ ma túy vào dụng cụ để cả hai cùng sử dụng. Khoảng 13 giờ cùng ngày T tiếp tục đến quán, T ngồi chơi một lúc thấy bầu coóng còn ma túy lại tiếp tục sử dụng cùng C, sau đó Đ cũng vào cùng sử dụng ma túy. Sử dụng hết số ma túy trong bầu coóng T đi về. Khoảng 16 giờ ngày 19/5/2021 Đ đổ hết số ma túy còn lại mua được trước đó vào coóng rồi vứt túi nilon đựng ma túy đi, C sử dụng một phần ma túy trong bầu coóng. Khoảng 19 giờ ngày 19/5/2021 khi C và Đ đang ăn cơm tại quán của C thì có Nguyễn Văn T, sinh năm 1985 ở thôn Đ, xã C, huyện Tứ Kỳ (là người nghiện ma túy) đến mua gà, C đi làm gà cho khách, T thấy bộ sử dụng ma túy trong bếp có sẵn ma túy nên đã sử dụng. T đang sử dụng ma túy nghe thấy tiếng xe mô tô của Bùi Văn P, sinh năm 1991 ở thôn M, xã V, huyện Tứ Kỳ (là người nghiện ma túy) đến thì dừng sử dụng ma túy và cầm gà đi về. Lúc này Đ điều khiển xe đi ra ngoài thì T lại đến nhà hàng của C. T, P thấy có bộ sử dụng ma túy trong bếp có sẵn ma túy thì đi vào sử dụng. Đ đi ra ngoài đến trả xe cho anh V, khoảng 22 giờ cùng ngày Đ quay lại cửa hàng của C và cùng C tiếp tục sử dụng ma túy trong bộ sử dụng ma túy. Đến khoảng 02 giờ 50 phút ngày 20/5/2021 khi Đ và C đang sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện. Đ cầm bộ dụng cụ sử dụng ma túy phía trong bầu coóng vẫn còn ma túy ném vào góc nhà và bỏ chạy nhưng bị giữ lại. Lực lượng Công an thu giữ tại góc nhà bên trái (theo hướng nhìn từ cửa vào) bộ sử dụng ma túy gồm 01 chai nhựa dung tích 355ml màu trắng, bên ngoài bọc tem nhãn nước khoáng Quang Hanh, nắp chai nhựa màu đỏ được đục lỗ, một lỗ gắn ống hút bằng nhựa, một lỗ gắn coóng thủy tinh bị vỡ, tại vị trí này còn có 01 coóng thủy tinh dài 7cm, đường kính 0,5cm, bị vỡ hai đầu; 01 bầu coóng thủy tinh đã bị vỡ phần miệng, đáy bầu coóng có chứa chất rắn màu trắng đục; 01 bật lửa gas màu đỏ. C và Đ khai nhận chất rắn màu trắng đục trong bầu coóng thủy tinh là ma túy tổng hợp dạng đá mà C và Đ vừa sử dụng trước đó.

Khoảng 07 giờ ngày 19/5/2021 Phạm Văn K ra vườn tìm ma túy mà Đ ném vào từ tối ngày 18/5/2021 thì phát hiện một túi nilon màu xanh bên trong đựng 01 hộp bìa cứng màu trắng. K mở hộp ra thấy 01 túi nilon màu trắng kích thước 2,5x2cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng, K xác định là ma túy đá do K đưa tiền cho Đ mua trước đó. K cầm túi nilon màu trắng chứa ma túy cất giấu vào vị trí khe tường trong phòng ngủ của K còn túi nilon màu xanh và hộp bìa cứng K vứt lại tại vườn. Khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, K lấy một ít ma túy trong túi nilon màu trắng ra sử dụng bằng bộ dụng cụ sử dụng ma túy của bản thân có sẵn. Sau khi sử dụng xong, K cất giấu túi nilon chứa ma túy còn lại vào khe tường trong phòng ngủ để sử dụng dần. Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 20/5/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tứ Kỳ đến nhà ở của Phạm Văn K làm việc, K đã khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và tự nguyện giao nộp túi nilon chứa ma túy cất giấu ở khe tường phòng ngủ của K. Cơ quan CSĐT Công an huyện Tứ Kỳ thu giữ tại vườn nhà K 01 túi nilon màu xanh, 01 hộp bìa cứng màu trắng.

Tại Kết luận giám định số 281/KLGĐ-PC ngày 21/5/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất rắn màu trắng đục trong bầu coóng thủy tinh bị vỡ được niêm phong đánh số ký hiệu 01, ghi thu của Trần Văn C và Phạm Văn Đ gửi đến giám định có khối lượng là 0,086g (không phẩy không trăm tám mươi sáu gam) là ma túy, loại methamphetamine; Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng trong túi nilon được niêm phong trong phong bì đánh số ký hiệu 02, ghi thu của Phạm Văn K gửi đến giám định khối lượng là 0,558g (không phẩy năm trăm năm mươi tám gam) là ma túy, loại Methamphetamine.

Tại cáo trạng số 56/CT - VKSTK ngày 29-9-2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ truy tố bị cáo Trần Văn C về tội "Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy" theo điểm b, d khoản 2 Điều 256 của Bộ luật Hình sự (BLHS); các bị cáo Phạm Văn K, Phạm Văn Đ về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS.

Tại phiên tòa: Các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, công nhận quyết định truy tố của VKSND huyện Tứ Kỳ là đúng.

VKSND huyện Tứ Kỳ giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội "Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy"; các bị cáo Phạm Văn K, Phạm Văn Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Về hình phạt: Áp dụng các điểm b, d khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS đối với Trần Văn C; xử phạt bị cáo Trần Văn C từ 7 năm 6 tháng đến 8 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 23/5/2021. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; các điều 17, 38, 58 BLHS đối bị cáo Phạm Văn K, Phạm Văn Đ; áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 với bị cáo Đ; xử phạt mỗi bị cáo từ 18 tháng đến 21 tháng tù tính từ ngày tạm giam 23/5/2021;Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng; Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; các điểm a, b khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu cho tiêu hủy 0,488gam ma túy, loại Methamphetamine, 01 túi nilon màu trắng, 01 bầu coóng thủy tinh bị vỡ phần miệng là mẫu vật hoàn lại sau giám định và 01 chai nhựa dung tích 355ml màu trắng, bên ngoài bọc tem nhãn nước khoáng Quang Hanh, nắp chai nhựa màu đỏ được đục hai lỗ, một lỗ gắn ống hút bằng nhựa, một lỗ gắn coóng thủy tinh bị vỡ; 01coóng thủy tinh dài 7cm, đường kính 0,5cm bị vỡ hai đầu; 01 bật lửa gas màu đỏ; sim số 0392.275.595 và sim số 0795.555.207; 01 túi nilon màu xanh; 01 hộp bìa cứng màu trắng kích thước 13x9x6,5cm; Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung loại Galaxy A20 vỏ màu đen của Phạm Văn K; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung loại A9 vỏ màu xanh của Phạm Văn Đ sử dụng vào việc phạm tội. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với chính lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, người chứng kiến, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 02 giờ 50 phút ngày 20/5/2021 tại cửa hàng gà tươi mạnh hoạch của Trần Văn C ở thôn Lâm Đồng, xã Văn Tố, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương Cơ quan CSĐT Công an huyện Tứ Kỳ kiểm tra, phát hiện Trần Văn C, Phạm Văn Đ đang sử dụng trái phép chất ma túy, thu giữ vật chứng là bộ sử dụng trái phép chất ma túy còn dính ma túy loại Methamphetamine. Quá trình điều tra xác định trong khoảng thời gian từ 23 giờ ngày 18/5/2021 đến khoảng 02 giờ 50 phút ngày 20/5/2021, Trần Văn C đã để Phạm Văn Đ, Hoàng Văn T, Bùi Văn T, Nguyễn Văn P sử dụng trái phép chất ma túy tại cửa hàng gà tươi mạnh hoạch là địa điểm thuộc quyền quản lý của C. Số ma túy C, Đ, T, T, P sử dụng là ma túy của Đ mang đến và cất giấu trong người.

Khoảng 9 giờ 30 phút ngày 20/5/2021 tại nhà ở của mình tại thôn T, xã A, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương Phạm Văn K tự nguyện giao nộp cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Tứ Kỳ 0,558 gam ma túy, loại Methamphetamine K cất giấu ở khe tường phòng ngủ để sử dụng cho bản thân. Số ma túy này là do K đưa 3.000.000 đồng cho Phạm Văn Đ đi mua ma túy (loại Methamphetamine) về chia cho K một nửa, Đ một nửa để sử dụng.

Bị cáo Trần Văn C là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận rõ được hành vi chứa chấp 04 người và 05 lần cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy tại quán nơi mình quản lý là vi phạm pháp luật, nên hành vi của bị cáo cấu thành tội "Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy" quy định tại điểm b, d khoản 2 Điều 256 BLHS.

Các bị cáo Phạm Văn K và Phạm Văn Đ nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật song vẫn cố ý thực hiện hành vi tàng trữ 0,558 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng, nên hành vi của các bị cáo K, Đ đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Như vậy, Quyết định truy tố của VKSND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương đối với các bị cáo về tội và điều luật như trên là hoàn toàn có căn cứ.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng chất ma túy, xâm phạm an toàn trật tự công cộng, làm mất trật tự xã hội ở địa phương. Do vậy, cần phải xem xét xử lý theo đúng quy định của pháp luật.

Đây là vụ án có hai nhóm tội danh: Đối với Trần Văn C cho các đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy nhiều lần tại quán của mình nên bị cáo phải chịu trách nhiệm độc lập với tội "Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy". Đối với tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", các bị cáo K và Đ đều tham gia với vai trò đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo K là đưa tiền cho Đ đi mua ma túy về sử dụng, nên giữ vai trò chính, bị cáo Đ người trực tiếp đi mua ma túy nên giữ vai trò thứ hai.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo C có nhân thân tốt; các bị cáo Đ và K có nhân thân không tốt. Bị cáo Đ năm 2018 đã bị Chủ tịch UBND huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu quyết định đưa vào cai nghiện bắt buộc; năm 2018 bị Công an huyện Tứ Kỳ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau; Năm 2014 bị cáo K đã bị TAND huyện Tứ Kỳ xử phạt tù về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"; Bị cáo C, K không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào; Tại bản án số 98/2018/HSPT ngày 29/10/2018 của TAND tỉnh Hải Dương xử phạt Đ 07 tháng tù về tội "Cố ý làm hư hỏng tài sản", ngày 29/5/2019 Đ chấp hành xong hình phạt tù tính đến ngày 20/5/2021 Đ phạm tội chưa được xóa án tích, nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS; Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Bị cáo C có bố đẻ được tặng thưởng Huy chương kháng chiến nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, vị trí vai trò, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: HĐXX cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với cả 3 bị cáo một thời gian thì mới có tác dụng giáo dục các bị cáo trở thành người tốt và đấu tranh phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo bị nghiện ma túy, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với 0,488 gam ma túy, loại Methamphetamine là vật Nhà nước cấm lưu hành, nên cần tịch thu cho tiêu hủy; 01 bầu coóng thủy tinh bị vỡ phần miệng; 01 chai nhựa dung tích 355ml màu trắng, bên ngoài bọc tem nhãn nước khoáng Quang Hanh, nắp chai nhựa màu đỏ được đục hai lỗ, một lỗ gắn coóng thủy tinh bị vỡ; coóng thủy tinh dài 7cm, đường kính 5cm bị vỡ hai đầu; 01 bật lửa ga; là dụng cụ sử dụng ma túy cần tịch thu cho tiêu hủy; 01 túi nilon màu xanh; 01 hộp bìa cứng màu trắng kích thước 13x9x6,5cm; 01 túi nilon màu trắng không còn giá trị sử dụng tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung loại Galaxy A20 vỏ màu đen của K và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung loại A9 vỏ màu xanh của Đ sử dụng vào việc phạm tội cần tịch sung vào ngân sách Nhà nước; tịch thu tiêu hủy sim số 0392.275.595 của K và sim số 0795.555.207 của Đ.

Trong vụ án này, anh Nguyễn Văn V khi Đ mượn xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu sơn đen trắng, biển số 34B1-293.54 đi mua ma túy, anh V không biết nên không đặt ra xử lý. Đối với Hoàng Văn T, Nguyễn Văn T, Bùi Văn P có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an huyện Tứ Kỳ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp. Anh Phạm Đình Đ, chị Vũ Thị L khi cho C thuê địa điểm để mở nhà hàng kinh doanh không biết C sử dụng cho bản thân và người khác sử dụng trái phép chất ma túy nên nên không đặt ra xử lý. Người đàn ông bán ma túy cho Đ, quá trình điều tra không làm rõ được tên, tuổi, địa chỉ, nên không có căn cứ để xử lý.

Về án phí: Các bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm b, d khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo Trần Văn C; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; các điều 17, 58; điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS đối với bị cáo Phạm Văn K, Phạm Văn Đ; Áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS đối với bị cáo Đ.

1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội "Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy"; các bị cáo Phạm Văn K, Phạm Văn Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

1.1. Xử phạt bị cáo Trần Văn C 7 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 23/5/2021.

1.2. Xử phạt bị cáo Phạm Văn K 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 23/5/2021.

1.3. Xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 23/5/2021.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ các điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, b khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu cho tiêu hủy 0,488 gam ma túy, loại Methamphetamine, 01 túi nilon màu trắng, 01 bầu coóng thủy tinh bị vỡ phần miệng; chai nhựa dung tích 355ml màu trắng, bên ngoài bọc tem nhãn nước khoáng Quang Hanh, nắp chai nhựa màu đỏ được đục hai lỗ, một lỗ gắn ống hút bằng nhựa, một lỗ gắn coóng thủy tinh bị vỡ; coóng thủy tinh dài 7cm, đường kính 5cm bị vỡ hai đầu; 01 bật lửa ga; 01 túi nilon màu xanh; 01 hộp bìa cứng màu trắng KT (13x9x6,5)cm. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung loại Galaxy A20 vỏ màu đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung loại A9 vỏ màu xanh; Tịch thu cho tiêu hủy sim số 0392.275.595 và sim số 0795.555.207(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Tứ Kỳ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ ngày 22-10-2021 ).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án. Xử: Các bị cáo Trần Văn C, Phạm Văn Đ, Phạm Văn K mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm ngày), kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ