vanban.org

Bản án 61/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 27/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Công K và Dương Cát T phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ GẠO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2021/HS-ST
Ngày: 27-10-2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO – TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Mai Thị Đào Oanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Trương Hoàng Hoa;

2/ Ông Châu Văn Bình;

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thanh Phong - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Ngọc – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 10 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 46/2021/TLST - HS ngày 16 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2021/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2021/HSST-QĐ ngày 11 tháng 9 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2021/HSST-QĐ ngày 09 tháng 10 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Công K, (tên gọi khác: Kềnh); Giới tính: Nam. Sinh ngày 30/10/1992 tại tỉnh Tiền Giang; CMND: 312149141; Nơi cư trú: ấp MH, xã MP, thành phố MT , tỉnh Tiền Giang; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Cha ruột tê Nguyễn Văn V (sinh năm 1967) và mẹ ruột Nguyễn Thị Ngọc M, (sinh năm 1971); Anh, chị em ruột: Có 01 người, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; Vợ Nguyễn Thị Hoàng T, sinh năm 1996 (đã ly hôn); Con: Nguyễn Ngọc Trâm A, sinh năm 2014; Tiền sự: Không; Tiền án: Không.

- Bị cáo bị bắt tạm giữ 10/4/2021 và tạm giam từ ngày 19/4/2021 đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Dương Cát T1, (tên gọi khác: Ngói); Giới tính: Nam; Sinh ngày 15/12/2002 tại tỉnh Tiền Giang; CMND: 312508273; Nơi cư trú: ấp ĐN, xã ĐHP, huyện CG, tỉnh Tiền Giang; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Cha ruột tên Dương Hoài V, sinh năm 1975; và mẹ ruột tên Nguyễn Thị Kim Ph, sinh năm 1975; Bị cáo không có anh, chị em ruột; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền sự: 01 lần, ngày 28/01/2021, bị Ủy ban nhân dân xã ĐHP ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường thị trấn trong thời hạn 03 tháng tại quyết định số 01/QĐ-UBND ngày 28/01/2021 do bị cáo có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chấp hành xong ngày 28/4/2021; Tiền án: Không.

- Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/4/2021 đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

- Hồ Thanh T2 – sinh năm 1985 (vắng mặt);

Cư trú: Ấp Tân Mỹ, xã Tân Bình Thạnh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

- Trần Văn X – sinh năm 1964 (vắng mặt);

Cư trú: Ấp Vĩnh Phước, xã Đăng Hưng Phước, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Nguyễn Thành L, sinh năm 1998 (vắng mặt).

Cư trú: Ấp Bình Long, xã TB, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

- Nguyễn Văn Đ1 – sinh năm 1966 (vắng mặt);

Cư trú: Ấp TĐB, xã TB, huyện CG, tỉnh Tiền Giang.

- Lê Thị T3 – sinh năm 1967 (vắng mặt);

Cư trú: Ấp TĐB, xã TB, huyện CG, tỉnh Tiền Giang.

- Nguyễn Tấn Đ2– sinh năm 1985 (vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp ML, xã MP, thành phố MT, tỉnh Tiền Giang.

- Phạm Quốc T4 – sinh năm 1985 (vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp ĐP, xã TB, huyện CG, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 07 giờ ngày 02/4/2021, bị cáo Nguyễn Công K rủ bị cáo Dương Cát T1 đi tìm tài sản để trộm bán lấy tiền tiêu xài thì bị cáo Cát T1 đồng ý. Khi đi bị cáo K mang theo 01 (một) cái kềm và 01 (một) đoạn kim loại, điều khiển xe mô tô biển số 63B9-542.79 chở Cát T1 đi trên các tuyến đường thuộc địa bàn huyện Chợ Gạo để tìm tài sản lấy trộm. Khi đi ngang nhà bị hại anh Hồ Thanh T2, địa chỉ: ấp TM, xã TBT, huyện CG, tỉnh Tiền Giang thì phát hiện con chim chào mào mái có lông màu xám đen, phần lông hai bên mắt và phần bụng có màu đỏ, phần lông trên đầu mọc thẳng và nhô cao, chim chào mào nuôi được 02 năm tuổi, đang nhốt trong cái lồng bằng sắt thì bị cáo K kêu Bị cáo Cát T1 đứng bên ngoài giữ xe và cảnh giới, còn bị cáo K trực tiếp vào trong nhà anh Tuấn lấy trộm con chim chào mào cùng lồng chim rồi ra xe cho Bị cáo Cát T1 chở đi.

Sau khi trộm được con chim chào mào thì bị cáo K và Bị cáo Cát T1 cầm theo lồng chim tiếp tục đi tìm tài sản để lấy trộm. Khi đến nhà bị hại ông Trần Văn X phát hiện không có ai ở nhà nên bị cáo K đi vào nhà tìm sản, còn Bị cáo Cát T1 đứng bên ngoài cảnh giới. Bị cáo K đi vào cửa hành lang dùng kềm mang theo bẻ khoen cửa đi vào. Vào trong nhà bị cáo K lục tìm tài sản và lấy trộm 01 (một) tivi màn hình phẳng nhãn hiệu Nanocell LG 43NANO79TND cùng rimote, 01 (một) máy tính bảng nhãn hiệu Samsung Galaxy Tab A8 cùng bao da. Sau khi lấy được tài sản, bị cáo K và Bị cáo Cát T1 đem bán tivi cho Nguyễn Văn Đ, địa chỉ ấp TĐB, xã TB, huyện CG, tỉnh Tiền Giang giá 1.000.000 đồng rồi chia nhau mỗi người 500.000 đồng. Đối với con chim chào mào thì Bị cáo Cát T1 dùng để đổi với anh Nguyễn Văn T, địa chỉ: ấp TĐB, xã TB, huyện CG, tỉnh Tiền Giang lấy một con chim cu và bù thêm cho anh T2 300.000 đồng. Riêng máy tính bảng bị cáo K đem bán cho Nguyễn Tấn Đ2, địa chỉ: ấp ML, xã MP, thành phố MT, tỉnh Tiền Giang giá 800.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết số tiền này. Đến ngày 10/4/2021, hành vi trộm cắp tài sản của K và Cát T1 đã bị Cơ quan công an phát hiện bắt giữ.

Theo Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 34/ KL-ĐGTS ngày 12/4/2021 xác định tài sản thiệt hại:

+ 01 (một) ti vi màn hình phẳng hiệu Nanocell LG 43NANO79TND, số IMEL: 0121NTX66745, mua ngày 05/03/2021 (phụ kiện kèm theo gồm 01 Rimote của tivi hiệu Nanocell LG 43NANO79TND) trị giá 9.720.000 đồng;

+ 01 (một) máy tính bảng hiệu Samsung Galaxy Tab A8, màu vàng đồng, mua năm 2018, trị giá 1.516.000 đồng.

+ 01 (một) bao da màu nâu không rõ nhãn hiệu của máy tính bảng hiệu Samsung Galaxy Tab A8, hội đồng không xác định được giá trị.

Tổng tài sản thiệt hại 11.236.000 đồng.

Theo Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 50/KL-ĐGTS ngày 14/6/2021 xác định tài sản thiệt hại:

+ 01 (một) con chim chào mào mái, lông màu xám đen, phần lông hai bên mắt và phần bụng có màu đỏ, phần lông trên đầu mọc thẳng và nhô cao, chim nuôi được 02 năm tuổi, trị giá 1.200.0000 đồng.

+ 01 (một) cái lồng chim bằng sắt đã gỉ sét, dạng khối hộp, kích thước đáy (30x30)cm; chiều cao 40cm, gồm nhiều thanh kim loại sắt nhỏ ghép song song với nhau, thời gian đã sử dụng 03 năm, trị giá 30.000 đồng.

+ 02 (hai) cái máng đựng nước uống dành cho chim nuôi lồng, bằng nhựa màu trắng, không rõ nhãn hiệu, dạng khối hộp có kích thước đáy (10x5)cm, chiều cao 05cm, thời gian đã sử dụng 03 năm, trị giá 6.000 đồng.

Tổng tài sản thiệt hại 1.236.000 đồng.

* Vật chứng trong vụ án:

Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ và trả lại tài sản cho bị hại Trần Văn X: 01 (một) ti vi màn hình phẳng hiệu Nanocell LG 43NANO79TND, số IMEL:0121NTX66745, mua ngày 05/03/2021 (phụ kiện kèm theo gồm 01 Rimote của tivi hiệu Nanocell LG 43NANO79TND, số IMEL: 0121NTX66745).

Đối với vật chứng:

+ 01 (một) máy tính bảng hiệu Samsung Galaxy Tab A8 cùng 01 (một) bao da màu nâu không rõ nhãn hiệu của máy tính bảng hiệu Samsung Galaxy Tab A8; 01 (một) con chim chào mào mái, lông màu xám đen, phần lông hai bên mắt và phần bụng có màu đỏ, phần lông trên đầu mọc thẳng và nhô cao, chim nuôi được 02 năm tuổi; 01 (một) cái lồng chim bằng sắt đã gỉ sét, dạng khối hộp, kích thước đáy (30x30)cm có chiều cao 40cm, gồm nhiều thanh kim loại sắt nhỏ ghép song song với nhau, thời gian đã sử dụng 03 năm; 02 (hai) cái máng đựng nước uống dành cho chim nuôi lồng, bằng nhựa màu trắng, không rõ nhãn hiệu, dạng khối hộp có kích thước đáy (10x5)cm, chiều cao 05cm, thời gian đã sử dụng 03 năm đã bán cho người khác (không rõ họ, tên, địa chỉ) nên không thu hồi được.

+ 01 (một ) cái kềm; 01 (một) đoạn kim loại của Nguyễn Công K dùng bẻ khóa nhà ông Trần Văn X, sau khi thực hiện vụ trộm cắp tài sản thì K thực hiện một vụ trộm khác trên địa bàn Mỹ Tho nên đã bị tạm giữ trong vụ án khác.

+ 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Wave gắn biển số 63B9-542.79, Nguyễn Công K mượn của Nguyễn Thành L, sinh năm 1998, địa chỉ ấp BL, xã TB, huyện CG, tỉnh Tiền Giang. Khi mượn thì K nói là đi công chuyện không nói cho L biết là sử dụng xe để đi trộm cắp tài sản. Đồng thời sau khi thực hiện vụ trộm cắp tài sản thì K đã làm mất nên Cơ quan điều tra không tiến hành thu giữ được.

Hiện tại còn tạm giữ 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe biển số 63B9-542.79 mang tên Phạm Quốc Thanh.

* Trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Văn X và Hồ Thanh T2 không yêu cầu các bị cáo bồi thường. Đối với Nguyễn Văn Đoàn không yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 1.000.000 đồng đã bỏ ra mua tivi của bị cáo K và Bị cáo Cát T1 bán. Anh Nguyễn Thành L không yêu cầu bị cáo K bồi thường xe bị mất.

Theo Cáo trạng số 50/CT-VKSCG ngày 16 tháng 7 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo đã truy tố các bị cáo Nguyễn Công K và bị cáo Dương Cát T tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa: Bị cáo K khai nhận, vào ngày 02/4/2021 bị cáo là người rủ Bị cáo Cát T1 đi trộm và trong ngày 02/4/2021 bị cáo đã đi trộm tại 02 ngôi nhà trên địa bàn huyện Chợ Gạo, trong đó 01 nhà thì bị cáo trộm con chim chào mào, nhà còn lại thì bị cáo đã trộm cái tivi và 01 máy tính bảng. Bị cáo là người trực tiếp lấy tài sản, còn Cát T1 đứng ngoài cảnh giới. Sau khi lấy được tài sản thì bị cáo cùng Cát T1 đem tivi bán được 1.000.000 đồng, bị cáo chia cho Cát T1 500.000 đồng và con chim chào mào; bị cáo giữ lại 500.000 đồng và 01 máy tính bảng, sau đó bị cáo đã đem bán được 800.000 đồng. Sau khi thực hiện trộm tài sản nêu trên thì vài ngày sau bị cáo đã thực hiện vụ trộm khác trên địa bàn thành phố MT nên các dụng cụ mà bị cáo sử dụng để mở khoen cửa nhà ông Xinh đã bị Cơ quan điều tra Công an thành phố MT thu giữ.

Bị cáo Cát T1 khai nhận, vào ngày 02/4/2021 khi bị cáo K rủ bị cáo đi trộm tài sản thì bị cáo đồng ý, bị cáo đã cùng bị cáo Khánh trộm tài sản của 02 nhà trên địa bàn huyện Chợ Gạo, tài sản trộm được gồm 01 con chim chào mào, 01 tivi và 01 máy tính bảng, bị cáo K là người trực tiếp lấy trộm tài sản còn bị cáo đứng ngoài xe cảnh giới. Sau khi lấy trộm tài sản thì bị cáo cùng với bị cáo K đem bán tivi được 1.000.000 đồng và bị cáo K đã chia cho bị cáo 500.000 đồng cùng 01 con chim chào mào, số tiền còn lại cùng 01 máy tính bảng thì bị cáo K giữ. Bị cáo Cát T1 đã đổi con chim chào mào và bù thêm 300.000 đồng cho anh Thơ để lấy con chim cu, sau đó con chim cu bị cáo đổi được đã bị chết.

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo K và Bị cáo Cát T1 từ 12 tháng đến 18 tháng tù. Về xử lý vật chứng, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho anh L 01 giấy chứng nhận đăng ký xe biển số 63B9-542.79. Về trách nhiệm dân sự, bị hại và người liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo xin lỗi gia đình bị hại và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chợ Gạo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Công K, Dương Cát T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của các bị cáo, lời khai của các bị cáo phù hợp với biên bản ghi lời khai của các bị hại và của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; biên bản nhận dạng; biên bản khám nghiệm hiện trường; Kết luận định giá tài sản. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 07 giờ ngày 02/4/2021, Nguyễn Công K rủ Dương Cát T đi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân thì Cát T1 đồng ý. Bị cáo K điều khiển xe mô tô biển số 63B9-542.79 chở Cát T1 đi trên các tuyến đường thuộc địa bàn huyện Chợ Gạo để tìm tài sản lấy trộm. Khi phát hiện nhà anh Trần Văn X, ngụ ấp VP, xã ĐHP, huyện CG và nhà anh Hồ Thanh T2, ngụ ấp TM, xã TBT, huyện CG không có ai ở nhà nên bị cáo K trực tiếp vào nhà lấy cắp tài sản, còn Bị cáo Cát T1 thì đứng bên ngoài cảnh giới, tổng giá trị tài sản các bị cáo trộm là 12.472.000 đồng. Hành vi phạm tội của các bị cáo K và Cát T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, hành vi đó không chỉ làm thiệt hại đến tài sản của người khác, mà còn gây hoang mang làm cho nhân dân không an tâm lao động, sản xuất, gây mất trật tự xã hội tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Bị cáo K và Bị cáo Cát T1 cùng nhau thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, nhưng các bị cáo không có bàn bạc trước để phân công cụ thể nhiệm vụ của từng người do đó hành vi cùng thực hiện việc trộm cắp của các bị cáo là đồng phạm giản đơn.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Đối với bị cáo K không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhưng bị cáo là người rủ Bị cáo Cát T1 đi trộm và bị cáo K là người trực tiếp trộm cắp tài sản. Bị cáo Cát T1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhưng bị cáo là đồng phạm với vai trò giúp sức. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo K và Cát T1 đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự trong khi quyết định hình phạt để tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm răn đe, giáo dục phòng ngừa tội phạm chung và răn đe, giáo dục đối với từng bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Văn X và Hồ Thanh T2 không yêu cầu các bị cáo bồi thường. Đối với Nguyễn Văn Đ1 không yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 1.000.000 đồng đã bỏ ra mua tivi của bị cáo K và Bị cáo Cát T1 bán. Anh Nguyễn Thành L không yêu cầu bị can K bồi thường xe bị mất nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ và trả lại tài sản cho bị hại Trần Văn X 01 (một) ti vi màn hình phẳng hiệu Nanocell LG 43NANO79TND, số IMEL:0121NTX66745, mua ngày 05/03/2021 (phụ kiện kèm theo gồm 01 Rimote của tivi hiệu Nanocell LG 43NANO79TND, số IMEL: 0121NTX66745) là đúng quy định pháp luật.

Đối với 01 (một) máy tính bảng hiệu Samsung Galaxy Tab A8 cùng 01 (một) bao da màu nâu không rõ nhãn hiệu của máy tính bảng hiệu Samsung Galaxy Tab A8; 01 (một) con chim chào mào mái, lông màu xám đen, phần lông hai bên mắt và phần bụng có màu đỏ, phần lông trên đầu mọc thẳng và nhô cao, chim nuôi được 02 năm tuổi; 01 (một) cái lồng chim bằng sắt đã gỉ sét, dạng khối hộp, kích thước đáy (30x30)cm có chiều cao 40cm, gồm nhiều thanh kim loại sắt nhỏ ghép song song với nhau, thời gian đã sử dụng 03 năm; 02 (hai) cái máng đựng nước uống dành cho chim nuôi lồng, bằng nhựa màu trắng, không rõ nhãn hiệu, dạng khối hộp có kích thước đáy (10x5)cm, chiều cao 05cm, thời gian đã sử dụng 03 năm đã bán cho người khác (không rõ họ, tên, địa chỉ) nên Cơ quan điều tra không thu hồi được là đúng quy định.

Đối với 01 (một ) cái kềm; 01 (một) đoạn kim loại của bị cáo K dùng bẻ khóa nhà ông Trần Văn X, sau khi thực hiện vụ trộm cắp tài sản thì K thực hiện một vụ trộm khác trên địa bàn Mỹ Tho nên đã bị tạm giữ trong vụ án khác và sẽ được xử lý sau.

Đối với 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Wave gắn biển số 63B9-542.79, Nguyễn Công K mượn của Nguyễn Thành L. Khi mượn thì bị cáo K nói là đi công chuyện không nói cho anh L biết là sử dụng xe để đi trộm cắp tài sản. Đồng thời sau khi thực hiện vụ trộm cắp tài sản thì K đã làm mất nên Cơ quan điều tra không tiến hành thu giữ được là đúng quy định.

Đối với 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe biển số 63B9-542.79 mang tên Phạm Quốc Thanh, quá trình điều tra xác định xe nêu trên thuộc sở hữu của anh Nguyễn Thành L (nhưng chưa sang tên giấy) và anh L đã cho bị cáo K mượn xe nhưng không biết bị cáo K sử dụng xe để đi trộm cắp tài sản, hiện xe nêu trên đã bị mất. Hội đồng xét xử xét thấy cần trả lại cho anh L giấy chứng nhận đăng ký xe nêu trên.

Đối với hành vi của Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Tấn Đ2 mua tài sản của Nguyễn Công K và Dương Cát T1 bán nhưng không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có nên không đủ cơ sở xử lý về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự. Đối với Nguyễn Thành L cho K mượn xe mô tô biển số 63B9-542.79 nhưng không biết K sử dụng làm phương tiện phạm tội nên không có cơ sở xử lý hình sự đối với L là đúng quy định pháp luật.

Xét đề nghị truy tố của đại diện Viện kiểm sát đối với các bị cáo Nguyễn Công K và Dương Cát T1 là có căn cứ và phù hợp với nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí: Các bị cáo K và Dương Cát T1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Công K và Dương Cát T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự;

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/ Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Công K 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 10/4/2021.

2/ Xử phạt: Bị cáo Dương Cát T1 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam 23/4/2021.

3/ Về xử lý vật chứng: Trả lại cho anh Nguyễn Thanh L 01 giấy đăng ký xe biển số 63B9.542.79.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/8/2021)

4/ Về án phí: Bị cáo K và Bị cáo Cát T1 mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5/ Kể từ ngày tuyên án các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị hại được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được kháng cáo liên quan đến phần quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án

Cỡ chữ