vanban.org

Bản án 61/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 27/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 - Tuyên bố: Bị cáo Thái Hoàng Bc phạm tội “cố ý gây thương tích ”.

2- Về trách nhiệm dân sự, căn cứ các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật Dân sự buộc bị cáo Thái Hoàng Bc bồi thường cho chị Trần Thị Bh tổng số là 20.700.000 đồng (gồm: tiền thuốc điều trị 3.700.000 đồng; tiền xe đi lại 3 chuyến 1.800.000 đồng; tiền công lao động mất thu nhập của người bệnh và người nu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BC L cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
  • Tòa quyết gì? 1 - Tuyên bố: Bị cáo Thái Hoàng Bc phạm tội “cố ý gây thương tích ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 61/2021/HS-ST
Ngày: 27-12-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Hoa

Ông Nguyễn Tấn Để

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đông Hải - Kiểm sát viên

Ngày 27 tháng 12 năm 2021 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 58/2021/TLST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2021/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:

Thái Hoàng Bc, sinh năm 1989 tại An Minh, Kiên Giang; Giới tính: nam; Nơi cư trú: ấp 9x, xã DH, huyện An Minh, Kiên Giang; Nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa: 5/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Thái Bình D và bà Huỳnh Thị L1; vợ là Cao Thị Lc1 và có 01 người con sinh năm 2021; tiền án: Ngày 27/02/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Kiên Hải xử phạt 12 tháng tù về tội “Vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản”; tiền sự: không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 02/10/2021 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện An Minh; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Trần Thị Bh, sinh năm 1990. Địa chỉ: ấp XD, xã DH A, huyện An Minh, Kiên Giang; có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn Lq, sinh năm 1972. Địa chỉ: ấp XD, xã DH A, huyện An Minh, Kiên Giang; có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

+ Ông Cao Văn Lc2, sinh năm 1979. Địa chỉ: ấp NH, xã DH A, huyện An Minh, Kiên Giang; có mặt tại phiên tòa.

+ Chị Cao Thị Lc1, sinh năm 1986. Địa chỉ: ấp 9x, xã DH, huyện An Minh, Kien Giang; có mặt tại phiên tòa.

+ Chị Cao Thị Lc3, sinh năm 2001. Địa chỉ: ấp XD, xã DH A, huyện An Minh, Kiên Giang; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ ngày 06/02/2021, Thái Hoàng Bc cùng vợ là Cao Thị Lc1 đến nhà mẹ vợ tại ấp XD, xã DH A, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang để thấp nhang và có tổ chức uống bia ở trước hàng ba nhà, những tham gia gồm: Cao Văn Lc2, Cao Thị Lc3, Cao Thị Lc1, Phụng và Thái Hoàng Bc. Trong lúc đang ngồi uống bia thì Trần Thị Bh là cháu của Cao Thị Lc1 đến cự cãi với Thái Hoàng Bc với lý do không cho Bc uống bia tại nhà ngoại của Bh, đồng thời lấy chai bia đập vào cột nhà làm bể chai bia, chỉ còn cầm phần cổ chai trên tay và nói với Bc “mầy tin tao đâm mầy không”, lúc này Bc thách thức và nhặt một mảnh vỡ chai bia nói “mầy tin tao cắt cổ mầy không”, rồi nhàu tới dùng tay trái câu cổ Bh, tay phải cầm mảnh vỡ chai bia kề vào cổ Bh, trong lúc giằng co, mảnh vỡ chai bia trên tay Bc trúng vào vành tai phải và vùng mặt bên phải của Bh gây thương tích, thì được mọi người can ngăn. Khi nghe tin Bh bị thương, ông Trần Văn Lq là cha ruột của Bh cầm dao chạy đến, nhưng Bc điều khiển xe máy chạy đi, ông Lq có cầm gạch ném theo nhưng không trúng. Sau khi sự việc xảy ra, Bc cũng bị thương tích ở ngón tay út bàn tay phải và cho rằng do ông Lq dùng dao chém gây nên nhưng không có đi điều trị, quá trình xác minh cũng xác định không có ai gây thương tích cho Bc. Đối với Trần Thị Bh sau khi sự việc xảy ra được người thân đưa đến Trung tâm Y tế huyện An Minh sau đó chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Kiên Giang điều trị.

Đến ngày 04/3/2021, Trần Thị Bh có đơn yêu cầu giám định thương tích. Cơ quan CSĐT ra Quyết định trưng cầu số 36 ngày 01/4/2021 tại Trung tâm Pháp y tỉnh Kiên Giang.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 193/TgT ngày 07/5/2021 của Trung tâm Pháp y tỉnh Kiên Giang kết luận:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

Sẹo phần mềm vùng tai phải (vết 1, 2) và vùng mặt phải.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 07%.

Đến ngày 07/6/2021, Thái Hoàng Bc có đơn yêu cầu giám định thương tích. Cơ quan CSĐT ra Quyết định trưng cầu số 55 ngày 10/6/2021 tại Trung tâm Pháp y tỉnh Kiên Giang.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 269/TgT ngày 22/6/2021 của Trung tâm Pháp y tỉnh Kiên Giang kết luận:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

Hiện tại không thấy dấu vết thương tích ngón 5 (ngón út) bàn tay phải.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 00%.

Tại Cơ quan điều tra Thái Hoàng Bc thừa nhận hành vi dùng mảnh vỡ chai bia gây thương tích cho Trần Thị Bh, lời khai nhận phù hợp với tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng, Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 (Một) vỏ chai bia nhãn hiệu “BIA SAIGON LAGER” bị vỡ phần cổ chai; 06 (Sáu) mảnh vỡ thủy tinh (vỏ chai bia SAIGON LAGER).

Về trách nhiệm dân sự, Bị hại Trần Thị Bh yêu cầu bồi thường các khoản chi phí điều trị thương tích và chi phí phát sinh trong quá trình điều trị với tổng số tiền là 40.140.000 đồng và đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật tại tòa.

Tại Cáo trạng số 59/CT-VKSAM ngày 17-11-2021 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Thái Hoàng Bc về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

- Kiểm sát viên kết luận bị cáo phạm tội cố ý gây thương tích và đề nghị: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Thái Hoàng Bc từ 06 đến 09 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự, đề nghị xem xét theo quy định; Về vật chứng tịch thu tiêu hủy.

- Bị cáo trình bày: Bị cáo thừa nhận hành vi như cáo trạng mô tả, không tranh luận gì. Đối với phần thiệt hại của chị Bh, bị cáo thống nhất bồi thường các khoản như tiền thuốc 3.700.000 đồng; tiền xe 3 chuyển 1.800.000 đồng; tiền công lao động 2 người bằng 10.200.000 đồng. Đối với tổn thất tinh thần nhờ HĐXX xac định; đối với tiền thẩm mỹ khi phát sinh sẽ bồi thường. Trong lời nói sau cùng bị cáo trình bày đã biết lỗi, xin HĐXX xem xét cho bị cáo mức án nhẹ nhất để về tiếp vợ nuôi con nhỏ và làm trả tiền cho bị hại.

- Bị hại chị Bh: Xác định không có đánh bị cáo trước như Cáo trạng đã nêu; xác nhận giữa hai bên có giằng co nhau nhưng là sau khi đã bị thương tích. Kiểm sát viên đề nghị cho bị cáo hưởng án treo là không đồng ý, đề nghị xử lý nghiêm khắc. Về dân sự yêu cầu bồi thường thiệt hại với tổng số là 44.650.000 đồng như bảng kê đã gửi.

- Người liên quan ông Lq: không yêu cầu gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện An Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi như cáo trạng mô tả. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai trước đó tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ khác đã được thu thập và thẩm tra tại phiên tòa. Đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 16 giờ ngày 06/02/2021, tại ấp XD, xã DH A, huyện An Minh, Kiên Giang, trong lúc Thái Hoàng Bc đang uống bia cùng với một số người khác tại nhà mẹ vợ của Bc, thì bị chị Trần Thị Bh dùng lời lẽ chửi bới, dẩn đến mâu thuẫn, thách thức nhau. Lúc này, Bc nhặt một mảnh vỡ chai bia rồi nhàu tới dùng tay trái câu cổ chị Bh, tay phải cầm mảnh vỡ chai bia kề vào cổ chị Bh, trong lúc giằng co, mảnh vỡ chai bia trên tay Bc trúng vào vành tai phải và vùng mặt bên phải của chị Bh, gây tổn hại sức khỏe 07%.

Với việc dùng mảnh vở chai thủy tinh tác động đến người của bị hại thì bị cáo phải biết sẽ gây ra thương tích nên hành vi của bị cáo là phạm tội với lỗi cố ý và phải chịu trách nhiệm về hậu quả đã gây ra; thực tế là hành vi của bị cáo đã làm bị hại bị tổn thương cơ thể với tỷ lệ 7%. Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; công cụ bị cáo dùng để gây thương tích cho bị hại là một phần mảnh vở chai bia có dạng sắc bén có khả năng gây ra thương tích và thực tế đã gây hậu quả tổn thương cơ thể cho bị hại nên được xác định là hung khí nguy hiểm. Do dó, Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo Thái Hoàng Bc phạm tội cố ý gây thương tích theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của bị hại. Sức khỏe là vốn quý giá của con người, không ai có quyền xâm phạm một cách trái pháp luật. Nhưng chỉ vì muốn giải quyết mâu thuẫn cá nhân mà bị cáo đã dùng hung khí gây thương tích cho bị hại. Hành vi của bị cáo không chỉ gây tổn thương sức khỏe cho bị hại mà còn gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương; gây ảnh hưởng thẩm mỹ đối với bị hại. Mặt khác, năm 2014 bị cáo đã từng bị kết án 12 tháng tù về tội Vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản; bị cáo đã chấp hành xong phần hình phạt, các phần khác của bản án chưa chấp hành xong nên không được xóa án tích. Khoản 1 Điều 53 Bộ luật Hình sự quy định “Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý”. Do đó, bị cáo Bc phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Do đó, HĐXX cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm nhằm răn đe bị cáo và giáo dục mọi người có ý thức và lựa chọn cách xử sự phù hợp pháp luật khi có mâu thuẫn xảy ra.

Tuy nhiên, sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tại phiên tòa bị cáo thống nhất cho việc bồi thường; cha bị cáo là người có công Cách mạng; bị hại đã có những lời lẽ, cách xử sự chưa đúng mức đối với bị cáo. HĐXX xem đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo.

Từ những phân tích nêu trên, HĐXX thấy bị cáo tuy có nơi cư trú rõ ràng, tỏ rõ thái độ quyết tâm sửa chữa lỗi lầm, tội đã phạm là tội ít nghiêm trọng nhưng bị cáo có nhân thân xấu và phải chịu tình tiết tăng nặng nên cần phải áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cách ly, buộc bị cáo chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo. Khi quyết định hình phạt cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhất là thái độ chấp hành pháp luật, mức độ hối cải để quyết định mức hình phạt nghiêm cho phù hợp tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự, sau khi xem xét bảng kê khai và hóa đơn, chứng từ kèm theo của bị hại, đối chiếu với quy định của Bộ luật Dân sự và tinh thần của Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08-7-2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về bồi thường thiệt hại, HĐXX xét thấy:

Tại phiên tòa bị hại yêu cầu và bị cáo chấp nhận gồm: tiền thuốc điều trị 3.700.000 đồng; tiền xe đi lại 3 chuyến 1.800.000 đồng; tiền công lao động mất thu nhập của người bệnh và người nuôi bệnh là 17 ngày x 2 người x 300.000 đồng/ngày là 10.200.000 đồng; tổng cộng là 15.700.000 đồng.

Đối với tiền tổn thất tinh thần bị cáo đồng ý bồi thường nhưng đề nghị HĐXX xem xét mức thiệt hại: HĐXX thấy hành vi của bị cáo gây thương tích cho bị hại và thương tích lại ở vùng mặt nên tổn thất tinh thần của bị hại là có. Tuy nhiên mức tổn hại sức khỏe chỉ 7 % nên HĐXX xác định mức bồi thường là 5.000.000 đồng.

Đối với chi phí cho việc điều trị sau này, có cả việc thẩm mỹ lại vùng sẹo ở mặt của bị hại, các bên thống nhất khi phát sinh sẽ thỏa thuận tiếp.

Về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy theo quy định.

Về án phí, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm đối với trách nhiệm bồi thường là 20.700.000 đồng x 5% là 1.035.000 đồng. Tổng cộng bị cáo chịu 1.235.000 đồng tiền án phí .

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1 - Tuyên bố: Bị cáo Thái Hoàng Bc phạm tội “cố ý gây thương tích ”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Thái Hoàng Bc 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bị cáo bị tạm giam là ngày 02/10/2021.

2- Về trách nhiệm dân sự, căn cứ các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật Dân sự buộc bị cáo Thái Hoàng Bc bồi thường cho chị Trần Thị Bh tổng số là 20.700.000 đồng (gồm: tiền thuốc điều trị 3.700.000 đồng; tiền xe đi lại 3 chuyến 1.800.000 đồng; tiền công lao động mất thu nhập của người bệnh và người nuôi bệnh là 17 ngày x 2 người x 300.000 đồng/ngày là 10.200.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần là 5.000.000 đồng).

Đối với chi phí điều trị, thẩm mỹ sau này khi phát sinh các bên thỏa thuận với nhau nếu không thỏa thuận được chị Bh có quyền khởi kiện thành vụ án dân sự khác.

Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3 - Về xử lý vật chứng: căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) võ chai bia; 06 mãnh vở thủy tinh của chai bia. (Hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh đang quản lý theo Quyết định chuyển giao vật chứng số 35/QĐ-VKS-AM ngày 17-11-2021 của VKSND huyện An Minh).

4- Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Thái Hoàng Bc chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.035.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, tổng cộng là 1.235.000 đồng.

5 - Bị cáo, bị hại, người liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 27-12-2021).

Trường hợp phần trách nhiệm dân sự trong bản án này được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự/.

Cỡ chữ