vanban.org

Bản án 61/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thạch Thị B đối với bị đơn anh Ngô Na R.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Thạch Thị B được ly hôn với anh Ngô Na R. Về con chung: Giao cháu Ngô Minh T (Nam), sinh ngày 12/02/2005 và cháu Ngô Thị Minh N (Nữ), sinh ngày 14/10/2011 cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu T, N đủ 18 tuổi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ND Thạch Thị B; BD Ngô Na R"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thạch Thị B đối với bị đơn anh Ngô Na R.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
THỊ XÃ VĨNH CHÂU
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 25/10/2021
V/v Ly hôn, tranh chấp
nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Chiêu Hùng.

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Triệu Khánh Long

Bà Nguyễn Huỳnh Hoa

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Anh Đô - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Diệp - Kiểm sát viên.

Ngày 25/10/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm, công khai vụ án dân sự thụ lý số: 57/2021/TLST-HNGĐ, ngày 09 tháng 3 năm 2021, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/7/2021, Thông báo số 98/2021/TB-TA ngày 19/7/2021 về việc không xét xử vụ án; Thông báo số 23/2021/TB-TA ngày 31/8/2021 về việc tiếp tục xét xử; Thông báo số 111/2021/TB-TA ngày 13/9/2021 về việc dời ngày xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa số 51/2021/QĐST-HNGĐ ngày 30/9/2021; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Thạch Thị B, sinh năm 1983 (có mặt)

Địa chỉ: khóm P, phường P, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn: Anh Ngô Na R, sinh năm 1983 (vắng mặt)

Địa chỉ: Phường A, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 17/02/2021 (BL01) cũng như quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Thạch Thị B trình bày: Năm 2003 chị Thạch Thị B kết hôn với anh Ngô Na R có tổ chức lễ cưới, đến năm 2012 có đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thị xã VC cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 20/8/2012. Cuộc sống chung hạnh phúc được thời gian đầu và đã có 02 (Hai) con chung là cháu Ngô Minh T (Nam), sinh ngày 12/02/2005 và cháu Ngô Thị Minh N (Nữ), sinh ngày 14/10/2011. Do phát sinh mâu thuẫn, sống chung không hòa hợp tính tình, thường xảy ra cãi vã nên từ năm 2019 thì chị B và anh R đã không còn sống chung với nhau.

Nay chị B nhận thấy tình cảm vợ chồng rạn nứt, không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được do đó yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị B được ly hôn với anh R. Về con chung cháu Ngô Minh T (Nam), sinh ngày 12/02/2005 và cháu Ngô Thị Minh N (Nữ), sinh ngày 14/10/2011 đang sống chung với chị B, chị B tôn trọng ý kiến của các cháu muốn sống với cha hay với mẹ thì người đó nuôi dưỡng, nếu các cháu muốn sống với chị B thì chị B không yêu cầu anh R thực hiện cấp dưỡng nuôi con, nếu các cháu muốn sống với anh R thì chị B cũng không thực hiện cấp dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung không có, nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh R, nhưng anh R không có văn bản gửi đến Tòa án để trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị B, đồng thời anh R cũng không đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tham gia phiên tòa.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật, tuy nhiên sự chấp hành pháp luật của bị đơn chưa đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị B được ly hôn với anh R. Về con chung: Giao con chung cháu Ngô Minh T (Nam), sinh ngày 12/02/2005 và cháu Ngô Thị Minh N (Nữ), sinh ngày 14/10/2011 cho chị B được tiếp tục, trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu T, N đủ 18 tuổi và cũng theo nguyện vọng của cháu Ngô Minh T, Ngô Thị Minh N, nếu cha mẹ không còn chung sống với nhau, cháu T, cháu N có nguyện vọng được sống chung với mẹ. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của chị B không yêu cầu anh R phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: Không có yêu cầu, nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập xét xử đến lần thứ hai cho anh R, nhưng anh R vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt anh R.

Về quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu khởi kiện của chị Thạch Thị B, nhận thấy hôn nhân của chị B và anh R là tự nguyện kết hôn, có tổ chức lễ cưới vào năm 2003, đến năm 2012 có đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 20/8/2012. Quan hệ hôn nhân của chị B và anh R không vi phạm các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Nhưng sau một thời gian chung sống thì phát sinh nhiều mâu thuẫn và hai người đã ly thân từ khoảng đầu năm 2019 cho đến nay, nguyên nhân chính là do bất đồng quan điểm sống, nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi vã nhau. Chị B nhận thấy cuộc sống chung không hạnh phúc, không còn tình cảm vợ chồng với anh R nên có nguyện vọng ly hôn. Hội đồng xét xử đã phân tích động viên chị B suy nghĩ lại, hàn gắn tình cảm vợ chồng với anh R, nhưng chị B vẫn cương quyết ly hôn, từ đó cho thấy tình trạng hôn nhân giữa các bên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị B được ly hôn với anh R.

Về con chung: Thời gian chung sống với nhau chị B và anh R có 02 người con chung tên Ngô Minh T (Nam), sinh ngày 12/02/2005 và cháu Ngô Thị Minh N (Nữ), sinh ngày 14/10/2011 hiện đang chung sống với chị B. Chị B tôn trọng ý kiến của các cháu muốn sống cha hay với mẹ thì người đó nuôi dưỡng, nếu cháu muốn sống với chị B thì chị B không yêu cầu anh R thực hiện cấp dưỡng nuôi con, nếu các cháu muốn sống với anh R thì chị B cũng không thực hiện cấp dưỡng và cũng theo nguyện vọng của cháu T, cháu N nếu cha mẹ không còn chung sống với nhau, cháu T, cháu N có nguyện vọng được sống với mẹ. Để đảm bảo cuộc sống của cháu T, cháu N không bị xáo trộn, để cháu phát triển bình thường về tâm, sinh lý nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình, giao cháu Ngô Minh T (Nam), sinh ngày 12/02/2005 và cháu Ngô Thị Minh N (Nữ), sinh ngày 14/10/2011 cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu T, cháu N đủ 18 tuổi. Xét thấy, chị B hiện có việc làm, thu nhập ổn định, đảm bảo đủ điều kiện nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của chị B không yêu cầu anh R cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Chị B khẳng định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Chị B khẳng định nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Từ những phân tích nêu trên, xét yêu cầu của nguyên đơn, đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Chị B phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Căn cứ vào điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thạch Thị B đối với bị đơn anh Ngô Na R.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Thạch Thị B được ly hôn với anh Ngô Na R.

- Về con chung: Giao cháu Ngô Minh T (Nam), sinh ngày 12/02/2005 và cháu Ngô Thị Minh N (Nữ), sinh ngày 14/10/2011 cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu T, N đủ 18 tuổi.

Anh Ngô Na R không phải cấp dưỡng nuôi con, anh R có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Anh R không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các cháu Ngô Minh T, Ngô Thị Minh N của chị B thì chị B có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom.

- Về tài sản chung: Chị B khẳng định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Về nợ chung: Chị B khẳng định nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

2/ Về án phí sơ thẩm: Chị Thạch Thị B phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị B đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai số 0009326, ngày 26/02/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, chị B đã thực hiện xong nghĩa vụ nộp án phí. Anh Ngô Na R không phải chịu án phí sơ thẩm.

3/ Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ, để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ