- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị H yêu cầu ly hôn với anh N"
- Tòa quyết gì? Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Kiều H.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2021/HNGĐ-ST Ngày 17 - 3 - 2021 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Huỳnh Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trịnh Văn Điệp.
Ông Nguyễn Việt Thắng.
- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Thêu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Ngày 17 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 63/2021/TLST-HNGĐ ngày 01/02/2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/3/2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Kiều H, sinh năm 1995.
Địa chỉ: Ấp R, xã H, huyện C, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Phương N, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 27/11/2020 và lời trình bày của nguyên đơn có tại hồ sơ, thể hiện: Vào tháng 11/2018 chị H và anh N tự nguyện sống chung với nhau, hôn nhân tự nguyện, không có đăng ký kết hôn. Thời kỳ chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Trần Khánh T, sinh 19/4/2020. Về tài sản chung và nợ chung không có. Nguyên nhân mâu thuẫn quá trình sống chung thì vợ chồng sống chung với cha mẹ chị H, anh của chị H có nói với anh N sao vợ chồng không về nhà cha mẹ anh N ở, để cho chị H có danh có phận, thì anh N nói chỉ vì cha mẹ ruột nên đã ly hôn một lần rồi, nên không muốn sống với cha mẹ, từ đó giữa anh N và cha mẹ chị H xảy ra mâu thuẫn, cha mẹ chị H đuổi anh N đi, từ đó vợ chồng không còn tình cảm và không sống chung từ ngày 24/12/2019 đến nay và không có thiện chí hàn gắn trở lại.
Nay chị H yêu cầu không công nhận chị H và anh N là vợ chồng. Về con chung yêu cầu nuôi con chung, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 745.000 đồng, cho đến khi nghĩa vụ cấp dưỡng được chấm dứt theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung và nợ chung không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Lời trình bày của bị đơn có tại hồ sơ, thể hiện: Anh N thống nhất với toàn bộ lời trình bày của chị H về hôn nhân, về con chung, tài sản chung và nợ chung. Nguyên nhân mâu thuẫn do cha mẹ vợ yêu cầu anh N ở rễ anh N không đồng ý, nên cha mẹ vợ đuổi anh N đi, sau đó anh N bỏ đi từ ngày 24/12/2019 đến nay, ngoài ra sau khi bỏ đi thì đến nay vợ có quen biết người đàn ông khác, từ khi không sống chung với nhau thì vợ chồng không có thiện chí hàn gắn trở lại.
Nay anh N yêu cầu không công nhận anh N và chị H là vợ chồng. Về con chung đồng ý giao cho chị H nuôi, anh N tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 745.000 đồng cho đến khi nghĩa vụ cấp dưỡng được chấm dứt theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung và nợ chung không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Từ những nội dung vụ án thể hiện;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Xét về quyền khởi kiện, quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Nguyên đơn thực hiện quyền khởi kiện bị đơn về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con và bị đơn có nơi cư trú tại huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau nên Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết vụ án dân sự “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét về thủ tục: Nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Xét yêu cầu và ý kiến của đương sự:
Về yêu cầu ly hôn: Hội đồng xét xử xét thấy chị H và anh N tự nguyện sống chung với nhau như vợ chồng và đủ điều kiện kết hôn thì phải đăng ký theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình và pháp luật về hộ tịch, nhưng chị H và anh N không đăng ký kết hôn, nên không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, do đó căn cứ Điều 9, Điều 14, Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 3 thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình không công nhận chị H và anh N là vợ chồng là phù hợp.
Về con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng cho con:
- Về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn: Hội đồng xé xử sau khi ly hôn thì giữa chị H và anh N thỏa thuận với nhau người trực tiếp nuôi con là chị H và việc thỏa thuận giữa các đương sự là hoàn toàn tự nguyện và chị H không thuộc trường hợp không đủ điều kiện để trực tiếp nuôi dạy con, nên cần ghi nhận và giao cháu Trần Khánh T cho chị H nuôi dạy là phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Anh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, anh N có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống với chị H, nếu anh N lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 82, khoản 2 Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định của pháp luật.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: Giữa chị H và anh N thỏa thuận được phương thức cấp dưỡng và mức tiền cấp dưỡng cho con mỗi tháng 745.000 đồng cho đến khi nghĩa vụ cấp dưỡng được chấm dứt theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy đối với mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng, theo hướng dẫn tại khoản 2, mục III Công văn số: 24/1999/KHXX ngày 17/3/1999 của Tòa án nhân dân tối cao thì mức cấp dưỡng tối thiểu không dưới ½ mức lương cơ sở do Nhà nước quy định tại thời điểm xét xử đối với 01 người con, mức lương cơ sở hiện nay là 1.490.000 đồng, xét thấy việc thỏa thuận giữa chị H và anh N là hoàn toàn tự nguyện và không trái với đạo đức xã hội, quy định của pháp luật. Do đó, cần ghi nhận và buộc anh N cấp dưỡng cho cháu T mỗi tháng là 745.000 đồng và phương thức cấp dưỡng hàng tháng là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 82, Điều 116, Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị H và anh N xác định không có và không có yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét về án phí dân sự sơ thẩm: Chị H phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng, anh N phải chịu án phí cấp dưỡng cho con là 300.000 đồng theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Chị H đã dự nộp tiền tạm ứng án phí trước 300.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được chuyển thu đối trừ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 9, Điều 14, Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 116, Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 4 Điều 3 thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Kiều H.
- Về hôn nhân: Không công nhận anh chị Trần Kiều H và anh Nguyễn Phương N là vợ chồng.
- Về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn: Giao cho chị H trực tiếp nuôi dạy cháu Trần Khánh T, sinh 19/4/2020. Anh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, anh N có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống với chị H, nếu anh N lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định của pháp luật.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: Buộc anh Nguyễn Phương N phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Trần Khánh T, sinh 19/4/2020 với số tiền 745.000 đồng/tháng cho đến khi nghĩa vụ cấp dưỡng được chấm dứt theo quy định của pháp luật. Phương thức cấp dưỡng: 01 tháng cấp dưỡng 01 lần, thời gian cấp dưỡng tính kể từ ngày 17/3/2021. Khi có lý do chính đáng và có yêu cầu thì mức cấp dưỡng có thể thay đổi.
Kể từ ngày chị H có đơn yêu cầu thi hành án mà anh N chậm thực hiện nghĩa vụ đối với khoản tiền cấp dưỡng nói trên, thì hàng tháng anh N còn phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với khoản tiền cấp dưỡng nói trên tương ứng với thời gian chậm trả.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị H phải nộp án phí ly hôn là 300.000 đồng, chị H đã dự nộp tạm ứng án phí trước 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0004598 ngày 01/02/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu đối trừ. Buộc anh N phải nộp án phí cấp dưỡng cho con là 300.000 đồng.
3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau (gửi mail); - VKSND huyện Trần Văn Thời; - Chi cục THADS huyện Trần Văn Thời; - UBND xã H; - UBND xã P; - Đương sự; - Lưu HSVA, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (ĐÃ KÝ) Trương Huỳnh Hải |