- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp tiền hụi giữa nguyên đơn Trần Thị Thảo V và bị đơn Ôn Thị Thúy H1"
- Tòa quyết gì? Xác định vợ chồng chị Ôn Thị Thúy H1, anh Đào Quang Th nợ vợ chồng bà Trần Thị Thảo V, ông Trần Đình H2 số tiền 240.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2021/DS-ST Ngày: 25/6/2021 “ V/v Tranh chấp về huê, hụi” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Quang
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Minh Chiến
2. Ông Hồ Xuân Dũng
- Thư ký phiên Tòa: Ông Võ Nam Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Đồng Việt – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 66/2021/TLST – DS ngày 31 tháng 3 năm 2021, về việc “Tranh chấp về huê, hụi”.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2021/QĐST-DS ngày 28 tháng 5 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 17/2021/QĐST-DS ngày 08/6/2021 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thảo V, sinh năm 1954 (có mặt)
Địa chỉ: 290 Lê Duẩn, phường Đập Đá, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định.
* Bị đơn: Chị Ôn Thị Thúy H1, sinh năm 1969 (có mặt)
Anh Đào Quang Th, sinh năm 1965 (vắng mặt)
Địa chỉ: Khu vực Bả Canh, phường Đập Đá, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Trần Đình H2, sinh năm 1948 (có mặt)
Địa chỉ: 290 Lê Duẩn, phường Đập Đá, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn khởi kiên, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và trong quá trình tố tụng nguyên đơn bà Trần Thị Thảo V trình bày: Bà và vợ chồng chị Ôn Thị Thúy H1, anh Đào Quang Th không có quan hệ bà con thân thích gì, hai bên chỉ quen biết nhau. Vợ chồng chị H1, anh Th (do chị H1 trực tiếp chơi) có tham gia chơi hêu, hụi với bà 03 dây huê như sau:
Dây huê thứ nhất mở ngày 08/6/2018 Âm lịch, có 24 người tham gia, mỗi chân đóng 10.000.000đ, ngày 08/6/2018 Âm lịch chị H1 hốt huê nhận tiền 170.350.000đ, chị H1 bỏ lãi cho các con bao nhiêu bà không nhớ, chân huê này đến ngày 08/5/2020 Âm lịch là kết thúc. Khi nhận tiền chị H1 có viết giấy nhận tiền và ký ghi rõ họ và tên.
Dây huê thứ 2 mở ngày 19/7/2018 Âm lịch, có 24 người tham gia, mỗi chân đóng 10.000.000đ, ngày 19/8/2018 Âm lịch chị H1 hốt huê nhận tiền 182.400.000đ, chị H1 bỏ lãi cho các con bao nhiêu bà không nhớ, chân huê này đến ngày 19/6/2020 Âm lịch là kết thúc. Khi nhận tiền chị H1 có viết giấy nhận tiền và ký ghi rõ họ và tên.
Dây huê thứ 3 mở ngày 17/01/2019 Âm lịch, có 24 người tham gia, mỗi chân đóng 10.000.000đ, ngày 17/01/2019 Âm lịch chị H1 hốt huê nhận tiền 179.200.000đ, chị H1 bỏ lãi cho các con bao nhiêu bà không nhớ, chân huê này đến ngày 19/6/2020 Âm lịch là kết thúc. Khi nhận tiền chị H1 có viết giấy nhận tiền và ký ghi rõ họ và tên.
Sau khi hốt huê, chị H1 không thực hiện việc nộp tiền hụi chết cho nên bà đã tự bỏ tiền ra Th toán cho các con huê còn lại. Đến ngày 27/4/2020, giữa bà và chị H1 đã chốt tất các dây huê mà chị H1 đã hốt nhưng không nộp tiền hụi chết đầy đủ cho bà, hai bên chốt số tiền huê hụi mà chị H1 nợ bà là 259.000.000đ. Từ ngày 29/7 đến ngày 30/10/2020 chị H1 trả nợ cho bà được 13.000.000đ, ngoài ra chị H1 còn trả nợ cho bà 02 lần được 6.000.000đ. Hiện nay, chị H1 còn nợ bà 240.000.000đ. Số tiền bà bỏ ra để trả cho các con huê là tiền chung của vợ chồng chị H1 hốt hụi để giải quyết việc gia đình nên bà yêu cầu cả vợ chồng chị H1, anh Th phải trả cho vợ chồng bà dứt điểm một lần số tiền huê, hụi còn nợ là 240.000.000đ (Hai trăm bốn mươi triệu đồng). Ngoài ra, bà không có yêu cầu gì khác.
* Tại biên bản ghi lời khai bị đơn chị Ôn Thị Thúy H1 trình bày: Giữa chị và bà V không có bà con thân thích gì, hai bên chỉ quen biết nhau do ở gần nhà. Chị bắt đầu chơi huê hụi do bà V cầm cái từ năm 2014, từ đó chị tham gia nhiều dây hụi và nhiều lần hốt hụi, chị thực hiện việc nộp tiền hụi rất sòng phẳng. Từ năm 2018, chị hốt hụi của bà V để trả lãi ngân hàng đối với những khoản vay để mua xe kinh doanh vận tải của gia đình. Việc kinh doanh thất bại không có tiền để đóng huê chết cho bà V đối với các dây huê mình đã hốt, nên năm 2020 chị và bà V thống nhất chốt hết tất cả các dây hụi, chị viết giấy nhận nợ cho bà V giữ làm tin, hai bên xác nhận chị còn nợ bà V 259.000.000đ. Tòa án công khai giấy do bà V cung cấp có nội dung “...tính đến ngày mãng Quê hết năm 2020 H1 nợ vợ cH1 cô Xuân, Ngọc 259.000.000đ tiền Quê. H1 sẽ trả dần cho cô Xuân, Ngọc đập đá (Hai trăm năm mươi chín triệu đồng chẵn) tiền quê. H1 trả 3 lần 11 + 09 +03 gạch chân 6DL 7DL 10 DL dấu mũi tên 259.000.000đ – 13.000.000đ gạch chân 246.000.000đ.” chị xác nhận đúng là giấy do mình viết và ký tên. Chị tham gia nhiều dây hụi trong thời gian dài nên không nhớ cụ thể từng dây hụi, thời gian chơi, số người tham gia, chị không yêu cầu Tòa án xem xét lại các dây hụi vì hai bên sau khi đối chiếu đã chốt hết tất cả các dây hụi chuyển thành nợ. Sau khi chốt nợ, giữa chị và bà V không còn phát sinh dây hụi nào nữa. Chị đã chuyển khoản trả cho bà V được 19.000.000đ, cụ thể như sau: Ngày 15/5/2020 trả 5.000.000đ, ngày 11/6/2020 trả 3.000.000đ, ngày 04/7/2020 trả 5.000.000đ, ngày 07/9/2020 trả 3.000.000đ, ngày 03/10/2020 trả 3.000.000đ. Hiện nay, chị còn nợ bà V tiền huê, hụi là 240.000.000đ. Chị xin bà V cho trả nợ dần, khi nào làm ăn có tiền chị sẽ trả. Một mình chị sẽ trả nợ cho bà V, còn anh Th không biết việc chị chơi hụi và hốt hụi nên không có trách nhiệm trả nợ.
Ngoài ra, chị không có yêu cầu gì khác.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Đình H2 trình bày: Thống nhất như lời trình bày của bà Trần Thị Thảo V, ông không có ý kiến, yêu cầu gì khác.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đào Quang Th trình bày: Anh không biết việc chị H1 chơi hụi, hốt hụi do bà V làm cái và nợ tiền của bà V, anh không có ý kiến yêu cầu gì.
Ý kiến kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng của vụ án từ giai đoạn thụ lý, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thảo V về việc yêu cầu vợ chồng chị Ôn Thị Thúy H1 và anh Đào Quang Th có nghĩa vụ cùng trả số tiền nợ 240.000.000đ cho vợ chồng bà V, ông H2 khi bản án có hiệu lực thi hành.Vợ chồng chị Ôn Thị Thúy H1, anh Đào Quang Th phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết tranh chấp về huê, hụi thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện được quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a, khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn cư trú tại phường Đập Đá, thị xã An Nhơn, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định. Tòa án đã triệu tập anh Đào Quang Th hợp lệ lần thứ 2 đến Tòa để tham gia tố tụng tại phiên tòa, nhưng anh Th vắng mặt không có lý do. Nên căn cứ vào điểm b, khoản 2 Điều 227 bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt.
Về nội dung: Huê, hụi là một hình thức giao dịch về tài sản theo tập quán với sự tự nguyện và thỏa thuận của một nhóm người cùng nhau định ra số người, thời gian, số tiền hoặc tài sản khác, thể thức góp, lĩnh hụi và quyền và nghĩa vụ của các thành viên được pháp luật thừa nhận quy định tại khoản 1 Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015. Bà Trần Thị Thảo V và chị Ôn Thị Bích H1 là người trực tiếp chơi huê, hụi. Bà V là người cầm cái, chị H1 là người tham gia. Chị H1 đã lĩnh hụi nhưng chưa thực hiện nghĩa vụ góp hụi nên giữa bà V và chị H1 đã thống nhất chốt tất cả các dây hụi phát sinh giữa hai người thành nợ với số tiền 259.000.000đ, được thể hiện qua giấy nhận nợ có chữ ký và tên chị Ôn Thị Thúy H1. Trong biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản hòa giải cũng như tại phiên tòa các đương sự không có ý kiến, yêu cầu gì về chứng cứ mà các bên đã đưa ra. Bà V và chị H1 thống nhất không tranh chấp về việc lĩnh, góp hụi, các dây hụi đã chơi và thống nhất số tiền nợ phát sinh từ việc chơi huê, hụi giữa bà V và chị H1 là 259.000.000đ. Bà V và chị H1 cũng thống nhất chị H1 đã trả nợ cho bà V số tiền 19.000.000đ, nên số tiền nợ còn lại là 240.000.000đ.
Xét về nghĩa vụ trả nợ và phương thức trả nợ: Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa vợ chồng bà V, ông H2 yêu cầu vợ chồng chị H1, anh Th phải có nghĩa vụ trả 240.000.000đ một lần trong thời gian sớm nhất mà không yêu cầu tính tiền lãi chậm trả trước đây. Còn chị H1 thì cho rằng chỉ một mình chị chơi hụi với bà V, anh Th không biết việc chơi hụi này nên không có nghĩa vụ phải trả nợ cho bà V, một mình chị sẽ trả nợ cho bà V số tiền 240.000.000đ nhưng xin bà V được trả dần số tiền nợ. Anh Đào Quang Th cho rằng mình không biết việc chị H1 chơi hụi và nợ tiền bà V. Xét ý kiến, yêu cầu của các bên đương sự, thấy rằng: Quan hệ xác lập lĩnh, góp hụi được tự nguyện thỏa thuận thực hiện quyền và nghĩa vụ với nhau. Chị H1 đã lĩnh hụi thì phải có nghĩa vụ đóng hụi cho bà V nhưng chị H1 đã không thực hiện nghĩa vụ nên đã làm phát sinh nợ. Bà V và chị H1 đã chốt tất cả các dây hụi và thống nhất chuyển thành nợ. Chị H1 trình bày hốt hụi trả lãi ngân hàng đối với những khoản vay để chi phí dịch vụ kinh doanh vận tải xe của gia đình, như vậy xác định chị H1 hốt hụi là để phục vụ mục đích kinh doanh chung cho gia đình do vậy nghĩa vụ do chị H1 thực hiện cũng là nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng theo quy định tại Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Nên, chị H1 và anh Th phải cùng có trách nhiệm trả nợ là phù hợp. Vì vậy, yêu cầu của vợ chồng bà V, ông H2 là có căn cứ nên buộc vợ chồng chị H1, anh Th phải trả 240.000.000đ là số tiền nợ phát sinh từ giao dịch huê, hụi cho vợ chồng bà V, ông H2 một lần khi bản án có hiệu lực thi hành mà không tính tiền chậm trả trước đây.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Ôn Thị Thúy H1, anh Đào Quang Th phải chịu 12.000.000đ (240.000.000đ x 5% = 12.000.000đ). Vợ chồng bà V, ông H2 được miễn tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm do là người cao tuổi theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Vợ cH1 bà V, ông H2 không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 186, Điều 220, điểm b, khoản 2 Điều 227, Điều 264, Điều 267 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015. Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tuyên xử:
1. Xác định vợ chồng chị Ôn Thị Thúy H1, anh Đào Quang Th nợ vợ chồng bà Trần Thị Thảo V, ông Trần Đình H2 số tiền 240.000.000đ (Hai trăm bốn mươi triệu đồng) phát sinh từ nghĩa vụ chưa góp tiền huê, hụi.
2. Buộc vợ chồng chị Ôn Thị Thúy H1, anh Đào Quang Th phải cùng có nghĩa vụ trả cho vợ chồng bà Trần Thị Thảo V, ông Trần Đình H2 số tiền 240.000.000đ (Hai trăm bốn mươi triệu đồng) khi bản án có hiệu lực thi hành.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc vợ chồng chị Ôn Thị Thúy H1, anh Đào Quang Th phải chịu 12.000.000đ (Mười hai triệu đồng). Bà V được miễn tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm do là người cao tuổi. Vợ cH1 bà V, ông H2 không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, riêng anh Đào Quang Th vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Định; - VKSND TX. An Nhơn; - Chi cục THA TX. An Nhơn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa Lê Ngọc Quang |