vanban.org

Bản án 61/2021/DS-PT — Tranh chấp về khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước theo quy định của Luật tài nguyên nước

TAND tỉnh An Giang Tuyên án 13/05/2021 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 13/05/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn c khoản 1 Điều 308 B lu t Tố tụng dân sự năm 2015,

Không chấp nh n yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn N. iữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 163/2020/DS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện C, tỉnh An iang. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước theo quy định của Luật tài nguyên nước — án dân sự — "Quyền về tưới nước, tiêu nước trong canh tác"
  • Tòa quyết gì? Căn c khoản 1 Điều 308 B lu t Tố tụng dân sự năm 2015,
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2021/DS-PT
Ngày: 13 - 5 - 2021
V/v tranh chấp Quyền về tưới
nước, tiêu nước trong canh tác

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Thám

Các Thẩm phán:

Ông Khưu Để Dành

Ông Trần Minh Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Mai - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Phước Thành - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 12 và 13 tháng 5 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 24/2020/TLPT-DS ngày 26/02/2021 về tranh chấp “Quyền về tưới nước, tiêu nước trong canh tác”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 163/2020/DS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện Cbị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 55/2021/QĐ-PT ngày 15 tháng 3 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: B i Lý H, sinh năm 1982; địa chỉ: p A T, x H, huyện C, tỉnh An Giang. (V ng m t

Người đại diện theo ủy quyền nguyên đơn:

- Ông B i Văn Ph, sinh năm 1943; địa chỉ: p L, xã K, huyện C, tỉnh An iang. (Theo Văn bản ủy quyền ngày 07/5/2021). Có m t ;

- Ông Trần Ng c P, sinh năm 1977; địa chỉ: p A, x H, huyện C, tỉnh An Giang (Theo Văn bản ủy quyền ngày 11/5/2021 Có m t ;

Người b o vệ quyền và l i ích h p pháp của bà B i ý H: Lu t sư Nguyễn Đ c K – Văn phòng lu t sư Nguyễn Đ c K, Đoàn lu t sư tỉnh An iang. Địa chỉ: Số 24, đư ng L, phư ng M, thành phố L, tỉnh An iang. Có m t .

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1966; địa chỉ: p L, x K, huyện C, tỉnh An iang. Có m t

Người b o vệ quyền và l i ích h p pháp của ng Nguy n V n N: Lu t sư Lê Thị Ch – Văn phòng lu t sư Lê Thị Ch, Đoàn lu t sư tỉnh An iang. Địa chỉ: Số 1234, ấp L, xã Đ, huyện C, tỉnh An iang. Có m t ;

3. Người có quyền l i, ngh a v liên quan:

3.1. Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh An iang; địa chỉ: p Th, thị trấn C, huyện C, tỉnh An iang (Có đơn đề nghị xét xử v ng m t ;

3.2. Lê Ng c N, sinh năm 1964; V ng m t

3.3. Nguyễn Kim P, sinh năm 1971; Có m t

3.4. Nguyễn Văn T, sinh năm 1988; V ng m t

3.5. Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1995; Có m t

3.6. Nguyễn Thị Kim Ng, sinh ngày 16/9/2003. Do ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Kim P làm đại diện ;

C ng địa chỉ: ấp L, x K, huyện C, tỉnh An iang.

3.7. Nguyễn Thị B Ngô Thị B), sinh năm 1935, V ng m t

Địa chỉ: ấp A, x A, huyện C, tỉnh An iang.

4. Người làm chứng:

4.1. Nguyễn Văn , sinh năm: 1974; địa chỉ: ấp A, x A, huyện C, tỉnh An Giang. Có m t

4.2. Nguyễn Tr ng Kh, sinh năm: 1960; địa chỉ: ấp A, x A, huyện C, tỉnh An Giang. Có m t

4.3. Huỳnh Văn H, sinh năm: 1968; địa chỉ: ấp L, x K, huyện C, tỉnh An iang. Có m t .

5. Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn N là bị đơn trong vụ án.

Trong vụ án nguyên đơn, ngư i có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án không có kháng cáo, Viện kiểm sát không có kháng nghị

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, t tự khai, các biên bản hòa giải ông B i Văn Ph, Trần Ng c P đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Bùi Lý H tr nh bày, ngu n gốc đất là của bà H sang nhượng lại của ông Lê Ng c N và bà Nguyễn Thị B t ng c ng diện t ch đất là 13.408m2, sang nhượng đất năm nào không nhớ. Đến năm 2004, bà B i Lý H đăng ký và được cấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất diện t ch là 13.408m2. Đến năm 2013 th xảy ra tranh chấp, do ông Nguyễn Văn N đ san lấp, b ng ph ng đư ng mương nước không cho nước ra vào nên bà H đ không tr ng lúa được. Trước năm 2013 th đư ng mương nước công c ng r ng khoảng 02m, dài khoảng 200m, hiện nay ông N đ san lấp b ng ph ng đư ng mương nước t ranh đất của ông N đến ranh đất của bà H nên không thể canh tác lúa được.

Nay ông Ph, ông P yêu cầu ông Nguyễn Văn N khai thông đư ng nước trả lại hiện trạng ban đầu là ngang khoảng 02m, dài theo bảng v đo đạc ngày 31/5/2017, để cho con ông Phúc là bà B i Lý H sử dụng cho sản xuất nông nghiệp. Đất t a lạc tại ấp A, x A, huyện C, tỉnh An iang. Yêu cầu ông Nguyễn Văn N b i thư ng thiệt hại 126.672.000đ do không canh tác được.

Bị đơn ông Nguyễn Văn N tr nh bày, ngu n gốc đất là của ông bà để lại cho ông. Đến năm 1992, ông được cấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất. Đư ng mương nước ông Ph tr nh bày không phải đư ng mương nước công c ng mà do cha ông là ông Nguyễn Văn Th chết 1987 đ đào năm nào thì ông không nhớ, đư ng nước này để lại cho ông sử dụng. T lúc con ông Ph là bà H mua và canh tác phần đất này, th phía ông Ph đ đóng đư ng nước mỗi năm 02 giạ lúa. Đến năm 2013, ông Phúc không thuê đư ng nước nữa, nên ông đ san lấp đư ng mương nước lại. Đối với diện t ch đất theo bảng v th a 44m2 so với giấy ch ng nh n ông được cấp giấy, là do ông san lấp đ a, và ban b thêm nên có dư diện t ch đất, ông thống nhất theo diện tích đất thực tế đang sử dụng. Nay bà B i Lý H yêu cầu ông khai thông đư ng nước và trả lại như hiện trạng ban đầu, ông không đ ng ý.

Ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Kim P tr nh bày: Bà với ông Nguyễn Văn N là vợ ch ng, bà thống nhất theo ý kiến của ông N, bà không có ý kiến g thêm.

Anh Nguyễn Văn Tr tr nh bày, anh là con của ông N, anh thống nhất với ý kiến của ông N, anh không có ý kiến gì thêm.

Bà Nguyễn Thị B Ngô Thị B , ông Lê Ng c N đ được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án của bà H và được triệu t p hợp lệ để giải quyết, nhưng v ng m t không lý do nên không hòa giải và ghi nh n ý kiến được.

Ủy ban nhân dân huyện C có văn bản tr nh bày: Đối với giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất số 00434/QSDĐ/nB ngày 17/5/2004 cấp cho bà B i Lý H, diện tích 13.408m2, đất lúa, t bản đ số 02, thửa số 43, 94, 1668, đất t a lạc tại ấp A, xã A. Tháng 01/2004, ông Lê Ng c N đại diện h gia đ nh l p hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có diện t ch 7.728m2 đất lúa thu c giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất số 00434/QSDĐ/nB, t bản đ số 02, thửa số 43, 94 cấp ngày 17/10/1992 cho ông Lê Ng c Náo cho bà B i Lý H, hợp đ ng chuyển nhượng được Ủy ban nhân dân xã A xác nh n theo quy định. Đ ng th i, bà Ngô Thị B cũng đại diện cho h gia đ nh l p hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có diện t ch 5.680m2 đất lúa thu c giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất số 00440QSDĐ/nB t bản đ số 02, thửa số 1668 cấp ngày 17/10/1992 cho bà Ngô Thị Ba cho bà B i Lý H, hợp đ ng chuyển nhượng được Ủy ban nhân dân x A xác nh n theo quy định. Sau khi hoàn thành thủ tục chuyển nhượng, đến ngày 17/5/2004 bà B i Lý H được Ủy ban nhân dân huyện Ccấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất số 00434/QSDĐ/nB, diện t ch 13.408m2, đất lúa, t bản đ số 02, thửa số 43, 94, 1668. Do đó, việc cấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất số 0434/QSDĐ/nB, diện t ch 13.408m2, đất lúa, t bản đ số 02, thửa số 43, 94, 1668 cho bà B i Lý H là đúng đối tượng và đúng theo tr nh tự, thủ tục theo quy định của pháp lu t.

Đối với giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất số 00393/QSDĐ/nB ngày 17/10/1992 cho ông Nguyễn Văn N, diện t ch 7.622m2, đất lúa, t bản đ số 02, thửa số 42, 1685, đất t a lạc tại ấp A, xã A. Ngu n gốc đất là của ông Nguyễn Văn Th (cha ông N), năm 1987 ông Th chết, ông N tiếp tục canh tác cho đến năm 1992 th làm đơn kê khai xin cấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất, được H i đ ng xét cấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất x A thống nhất xét cấp và đề nghị Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn N.

Đến ngày 17/10/1992, h ông Nguyễn Văn N được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất số 00393/QSDĐ/nB ngày 17/10/1992, diện tích 7.622m2, đất lúa, t bản đ số 02, thửa số 42, 1685. Do đó, việc cấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất số 0393/QSDĐ/nB ngày 17/10/1992, diện t ch 7.622m2, đất lúa, t bản đ số 02, thửa số 42, 1685 cho h ông Nguyễn Văn N là đúng đối tượng và đúng theo tr nh tự, thủ tục theo quy định của pháp lu t tại th i điểm cấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất. Do năm 1992, h sơ không lưu trữ s h khẩu nên không xác định được số thành viên trong h ông N.

Phần đất dôi dư ra có diện t ch 44m2 so với giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn N, không n m trong giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất số 00393/QSDĐ/nB cấp ngày 17/10/1992 của ông N.

Ngày 10/9/2020, Tòa án nhân dân huyện C có Công văn số 333/TA-DS đề nghị Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh C xác định phần diện t ch đất các đương sự tranh chấp t a lạc tại ấp H hay ấp L của x A.

Tại Công văn số 192/CNCM ngày 15/9/2020 của Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh C đ xác định phần diện t ch các đương sự tranh chấp t a lạc tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An iang.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 163/2020/DS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện C, quyết định:

Chấp nh n m t phần yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Lý H.

Bu c ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Kim P, anh Nguyễn Văn T, anh Nguyễn Văn Tr khôi phục mương nước diện t ch 170m2, t a lạc tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An iang, được Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh C thể hiện theo sơ đ khu đất ngày 31/5/2017 tại các mốc điểm 26,24,20,22.

Đ nh chỉ yêu cầu đòi b i thư ng thiệt hại của bà B i Lý H.

Sơ đ khu đất tranh chấp ngày 31/5/2017 của Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh C là m t phần không tách r i của bản án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi ph tố tụng, án ph dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo.

Ngày 18/9/2020, bị đơn ông Nguyễn Văn N n p đơn kháng cáo; yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại toàn b bản án dân sự sơ thẩm số 163/2020/DS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện C, tỉnh An iang.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị đơn ông Nguyễn Văn N giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

- Lu t sư Lê Thị Ch – ngư i bảo vệ quyền lợi ch hợp pháp bị đơn tr nh bày quan điểm tranh lu n: H i đ ng xét xử sơ thẩm đ đánh giá ch ng c m t cách chủ quan, t y tiện. Cụ thể tại Văn bản số 316 của Ủy ban nhân dân huyện C th chỉ kh ng định đây là đất không n m trong iấy ch ng nh n đ cấp iấy cho ông Nguyễn Văn N ch không nói đất mương công c ng như cấp sơ thẩm nh n định, đề nghị HĐXX xem xét l i khai, l i tr nh bày đại diện nguyên đơn ông Ph có th a nh n có cho mẹ ông N 02 giạ lúa để ăn bánh, an trầu, về ngu n gốc đất, đây là đất của gia đ nh bị đơn. Việc cấp iấy ch ng nh n của bị đơn không thể hiện diện t ch phần mương nước là trách nhiệm của ph a nhà nước, tại phiên tòa hôm nay cần thiết đề nghị HĐXX tạm ng ng phiên tòa để có văn bản hỏi cơ quan chuyên môn xác định đây là đất chung hay riêng. Ngoài ra trong biên bản hòa giải tại địa phương trước khi Tòa án giải quyết th cũng có l i tr nh bày của ông Phúc, đại diện ph a bà H “từ nay về sau kh ng đóng tiền gì cho phía ng N nữa” l i tr nh bày này ch ng minh cho việc trước đây nguyên đơn có thuê đư ng nước của gia đ nh bị đơn là có th t.

Yêu cầu HĐXX xem xét tạm ng ng phiên tòa để xác minh thêm căn c đây là mương công c ng hay mương của riêng gia đ nh bị đơn.

- Đại diện ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện

- Lu t sư Nguyễn Đ c K – ngư i bảo vệ quyền lợi ch hợp pháp nguyên đơn tr nh bày quan điểm tranh lu n: Sự việc tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn trong vụ án đ kéo dài rất lâu. H sơ vụ án thể hiện: ông Nguyễn Văn N đ có thái đ xem thư ng pháp lu t, tự ý lấp đư ng mương nước, gây b c xúc trong nhân dân, mà cụ thể ở đây là nguyên đơn bà H làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ch cho bà H (không thể canh tác lúa do không có đư ng nước ra vào trong m t th i gian dài, đất bỏ trống do không có nước tưới. Lu t sư cho r ng bản án sơ thẩm đ xem xét đầy đủ các ch ng c thể hiện trong h sơ vụ án để giải quyết vụ việc, hơn nữa Tòa án cấp sơ thẩm trong quá tr nh chuẩn bị xét xử đ có liên hệ cơ quan chuyên môn: T Phòng tài nguyên môi trư ng huyện, Văn phòng đăng ký đất đến Ủy ban nhân dân huyện C; các cơ quan chuyên môn cũng đ có văn bản trả l i cụ thể mà HĐXX sơ thẩm căn c vào đó để giải quyết. T đó đề nghị HĐXX phúc thẩm xem xét giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An iang phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp lu t: Kể t ngày thụ lý vụ án đến khi xét xử phúc thẩm, Thẩm phán, H i đ ng xét xử, Thư ký tuân thủ pháp lu t tố tụng dân sự; các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định B lu t Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị H i đ ng xét xử: Căn c khoản 1 Điều 308 B lu t Tố tụng dân sự năm 2015. Không chấp nh n kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 163/2020/DS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 18 tháng 9 năm 2020 bị đơn ông Nguyễn Văn N n p đơn kháng cáo trong th i hạn quy định tại Điều 273 B lu t Tố tụng dân sự năm 2015, có n p tạm ng án phí phúc thẩm nên H i đ ng xét xử chấp nh n xem xét bản án sơ thẩm theo tr nh tự phúc thẩm.

Đ ng th i, tại phiên tòa phúc thẩm ngày 12/5/2021 ph a bị đơn có cung cấp thêm những ngư i làm ch ng là ông Nguyễn Văn , ông Nguyễn Tr ng Kh và ông Huỳnh Văn H. Để có cơ sở giải quyết vụ án khách quan, đúng pháp lu t, nên H i đ ng xét xử chấp nh n cho ông , ông Kh và ông H tham gia tố tụng tại phiên tòa với tư cách là ngư i làm ch ng trong vụ án tại phiên tòa phúc thẩm.

Về n i dung: Ngu n gốc đất các bên tranh chấp có diện t ch 170m2 đất t a lạc tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An iang. Trong quá tr nh giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa phía đại diện nguyên đơn cho r ng khi bà H nh n chuyển nhượng đất t ông N, bà B th đ có con mương nước lâu đ i, ngang khoảng 2m, dài khoảng 200m. Sau khi bà H chuyển nhượng đất vẫn sử dụng mương nước này để tưới lúa t năm 2004 đến năm 2013 th ph a bị đơn ông N tự ý san lấp mương nước nên bà H không có nước sản xuất lúa được. Nay bà H yêu cầu ông N khôi phục lại mương nước.

Ph a bị đơn ông Nguyễn Văn N cho r ng đư ng mương nước là của cha ông là Nguyễn Văn Th chết đào để sử dụng cho gia đ nh và t c h của ông. Vào năm 2004 bà H chuyển nhượng lại đất của ông N, bà B, sau đó ông Ph (cha bà H) có thuê mương nước để bơm nước cho lúa ông Phúc mỗi năm 2 giạ lúa, nhưng đến năm 2013 ông Ph trả tiền thuê không đủ nên ông lấp lại mương nước không cho ông Ph sử dụng.

H i đ ng xét xử nh n thấy, qua các ch ng c có trong h sơ vụ án và tại công văn số 316/UBND-NC ngày 12/3/2019 Ủy ban nhân dân huyện C, căn c vào tr ch lục h sơ địa ch nh ngày 21/6/2018 của Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh C, xác định phần diện t ch con mương không thu c iấy ch ng nh n Quyền sử dụng đất số 00393/nB, diện t ch 7622m2 do ông Nguyễn Văn N đ ng tên, thu c t bản đ số 02, thửa đất số 42, 1685. Đ r ng mương tại vị tr tiếp giáp thửa đất số 94 là 6,6m; đ r ng mương tại vị tr tiếp giáp thửa đất số 1684 là 5,7m; chiều dài con mương là 76,7m. Ngoài ra, tại Công văn số 192/CNCM ngày 15/9/2020 của Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh Cđ xác định phần diện t ch đất các đương sự tranh chấp t a lạc tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An iang.

Tại phiên tòa phúc thẩm ph a bị đơn ông N và những ngư i làm ch ng là ông G, ông Kh và ông H đều xác nh n con mương nước này đ có lâu đ i. Ông N còn xác nh n, ngoài ông và bà H sử dụng con mương nước này, còn có nhiều ngư i ở phía ngoài đầu đất của ông vẫn sử dụng chung con mương nước này t đó cho đến nay, hiện vẫn sử dụng b nh thư ng. Riêng đối với diện t ch đất của bà H n m ph a sau đất của ông N, còn con mương chạy dài song song với đất ông N và những ngư i khác, đoạn cuối của con mương nước là cuối đất của ông N, nhưng ngay đầu đất của bà H, việc ông N lấp con mương nước sẻ gây khó khăn cho bà H trong quá tr nh sản xuất lúa, không có nước tưới nên bà H không thể tr ng lúa được nên bà H phải bỏ đất trống, việc này được ông N xác nh n tại phiên tòa phúc thẩm, ông N cho biết ngoài con mương nước ông đ lấp lại th bà H không có đư ng dẫn nước nào khác vào đất của bà H, nên bà H phải bỏ đất trống không canh tác lúa t năm 2013 cho đến nay.

Đối với l i khai nại của ông N cho r ng trong quá tr nh nguyên đơn sử dụng lấy nước t con mương có đong lúa cho ông mỗi năm là 2 giạ lúa, nhưng đến năm 2013 ông Phúc trả tiền không đủ nên ông lấp lại mương nước không cho ông Phúc sử dụng, việc bị đơn nói nguyên đơn có trả tiền thuê hàng năm nhưng không được ph a nguyên đơn th a nh n, phía bị đơn cũng không có ch ng c nào ch ng minh việc nguyên đơn hàng năm có trả tiền thuê mương nước cho ông N.

Đối với những ngư i làm ch ng như ông , ông Kh cho biết các ông chỉ nghe nói lại hàng năm ph a nguyên đơn ông Phúc có trả tiền thuê mương nước cho ph a bị đơn ông N, ngoài ra các ông không biết g thêm. Riêng ông H cho biết, ông có thuê đất canh tác và sử dụng mương nước chung với nguyên đơn và bị đơn, hàng năm ông có đưa tiền trị giá 1 giạ lúa cho ông Phúc trả tiền thuê mương nước cho ông N, ch ông không có ch ng kiến việc trả tiền, ngoài ra ông không biết g thêm. Đối với l i tr nh bày của ông H, không được không Phúc th a nh n, ông Ph cho r ng l i tr nh bày của ông H không đúng. Bởi v t trước cho đến nay ông H không có đưa tiền hay lúa cho ông để trả cho ông N.

T các nh n định trên cho thấy, bà H khởi kiện yêu cầu ông N khôi phục lại đư ng mương nước là có cơ sở. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nh n yêu cầu của bà H. Bu c ông N và các thành viên trong h của ông N là bà P, anh T, anh Tr Là vợ và các con ông N , có nghĩa vụ khôi phục lại đư ng nước là có căn c .

Đối với diện t ch đất đư ng nước tranh chấp, hiện ông Nguyễn Văn N đang quản lý, thể hiện tại các điểm 26,24,20,22 có diện t ch 170m2, được Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh Cthể hiện tại sơ đ hiện trạng khu đất ngày 31/5/2017. Do đó, ông N là bà P, anh T, anh Tr có nghĩa vụ khôi phục lại đư ng nước.

Xét thấy, tại phiên tòa phúc thẩm, phía bị đơn có cung cấp t tư ng tr nh ngày 04/5/2021 và các biên lai thu thuế photo n i dung chỉ thể hiện số tiền, giạ lúa, ký lúa ch không có thể hiện diện t ch đất, loại đất, thửa đất, đất t a lạc ở đâu, còn các thông báo thuế th n i dung có ghi đất vư n, nhà đất. Do đó không có cơ sở để H i đ ng xét xử xem xét. Ngoài các ch ng c trên th ph a bị đơn ông N không có cung cấp được ch ng c nào mới để ch ng minh cho yêu cầu kháng cáo của m nh, nên không có căn c để xem xét. V v y, H i đ ng xét xử Căn c vào khoản 1 Điều 308 B lu t tố tụng dân sự năm 2015, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm số 163/2020/DS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện C như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là hoàn toàn ph hợp với quan điểm của H i đ ng xét xử.

Trong th i gian H i đ ng xét xử nghị án, lu t sư Lê Thị Ch bảo vệ quyền lợi ch hợp pháp cho bị đơn có gửi Văn bản tr nh bày ý kiến b sung cho H i đ ng xét xử. Đề nghị H i đ ng xét xử hủy bản án sơ thẩm theo quy định của pháp lu t. Xét thấy, tại Văn bản tr nh bày ý kiến b sung ngày 13/5/2021 của lu t sư Lê Thị Ch, qua xem xét n i dung trong văn bản tr nh bày ý kiến không có phát sinh t nh tiết mới so với phần hỏi và tranh lu n diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm ngày 12/5/2021, nên H i đ ng xét xử không cần thiết phải quay lại phần hỏi và phần tranh lu n.

Đối với yêu cầu b i thư ng thiệt hại số tiền 126.672.000 đ ng, tại phiên toà sơ thẩm ông Phúc đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút lại yêu cầu này nên cấp sơ thẩm đ nh chỉ là có căn c .

Về án ph dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nh n, nên ông Nguyễn Văn N phải chịu án ph dân sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn c khoản 1 Điều 308 B lu t Tố tụng dân sự năm 2015,

- Không chấp nh n yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn N.

- iữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 163/2020/DS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện C, tỉnh An iang.

Căn c Điều 26, 34, 35, 144, 147, 165, 166, 217, 227, 244, 273 B lu t tố tụng dân sự; Điều 253 B lu t dân sự; Điều 166, 203 Lu t đất đai; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.

Xử: Chấp nh n m t phần yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Lý H.

Bu c ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Kim P, anh Nguyễn Văn T, anh Nguyễn Văn Tr khôi phục lại mương nước diện t ch 170m2, t a lạc tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An iang, được Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh C thể hiện theo sơ đ khu đất ngày 31/5/2017 tại các mốc điểm 26, 24, 20, 22.

Đ nh chỉ yêu cầu đòi b i thư ng thiệt hại của bà B i Lý H.

Sơ đ khu đất tranh chấp ngày 31/5/2017 của Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh C là m t phần không tách r i của bản án.

Ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Kim P phải chịu chi ph định giá, lệ ph sao lục h sơ và đo đạc 9.916.239đ Ch n triệu, ch n trăm mư i sáu ngàn, hai trăm ba mươi ch n đ ng bà H đ n p xong, ông N, bà Pha phải hoàn trả cho bà H số tiền này.

- Án phí dân sơ thẩm, ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Kim P phải chịu án phí sơ thẩm 300.000đ Ba trăm ngàn đ ng .

Bà Bùi Lý H được nh n lại số tiền tạm ng án ph 3.366.000đ ng Ba triệu, ba trăm sáu mươi sáu ngàn đ ng theo các biên lai số 06411 ngày 24/4/2014 và biên lai số 0019515 ngày 13/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.

- Án ph phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn N phải chịu án ph phúc thẩm 300.000đ Ba trăm ngàn đ ng , được khấu tr vào số tiền 300.000đ Ba trăm ngàn đ ng tạm ng án ph phúc thẩm theo biên lai thu số 0008816 ngày 29 tháng 9 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh An iang.

Trư ng hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Lu t Thi hành án dân sự th ngư i được thi hành án dân sự, ngư i phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thu n thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án ho c bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Lu t Thi hành án dân sự; th i hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Lu t thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp lu t kể t ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ