- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn X phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn X phạm tội "Trộm cắp tài sản".
- Căn cứ chính? Điều 136 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 331 Bộ luật tố t ng Hình sự; Điều 333 Bộ luật tố t ng Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2020/HSST Ngày: 18/8/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Vương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Văn Tiến và bà Phạm Thị Thúy
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Diệu Thúy - Thư TAND huyện Thái Th y.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Th y tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đình Tuấn Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 8 năm 2020, tại Tòa án nhân dân huyện Thái Th y, tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công hai v án hình sự th l số 54/2020/TLST – HS ngày 28 tháng 7 năm 2020 theo quyết định đưa v án ra xét xử số 53/2020/QĐXXST ngày 24 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Văn X; sinh ngày 21/8/1998; Giới tính: Nam.
Tên gọi hác: Không;
Nơi sinh: xã Q, huyện Thái Th y, tỉnh Thái Bình;
Nơi cư trú: thôn N, xã D, huyện Thái Th y, tỉnh Thái Bình.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh
Tôn giáo: Không
Trình độ học vấn: 9/12;
Nghề nghiệp: Lao động tự do;
Bố đẻ: Phạm Văn S, sinh năm 1965; Mẹ đẻ: Hà Thị L, sinh năm 1969;
Đều cư trú tại thôn N, xã D, huyện Thái Th y, tỉnh Thái Bình.
Bị cáo chưa có vợ con;
Tiền sự: Không;
Tiền án: Bản án số 91/2017/HSTT ngày 06/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Thái Th y, xử phạt Phạm Văn X 01 năm 03 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” và phải bồi thường trách nhiệm dân sự cho người bị hại số tiền 3.100.000 đồng. Ngày 16/8/2018, X chấp hành xong hình phạt tù và đã nộp án phí; hiện nay chưa chấp hành phần trách nhiệm bồi thường theo bản án đã tuyên.
Nhân thân: Ngày 06/12/2015 bị Công an xã Q (nay là xã D) xử phạt hành chính 1.000.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, bị cáo đã chấp hành xong.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/4/2020. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ công an huyện Thái Th y, tỉnh Thái Bình.
* Bị hại:
Anh Bùi Hữa V, sinh năm 1999
Trú tại: Thôn N, xã D, huyện Thái Th y, tỉnh Thái Bình.
2.3 Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Hà Thị L, sinh năm 1969
Trú tại: Thôn N, xã D, huyện Thái Th y, tỉnh Thái Bình.
- Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1993
Trú tại: Khu Y, thị trấn D, huyện Thái Th y, tỉnh Thái Bình.
- Anh Vũ Văn C, sinh năm 1982
Trú tại: Thôn P, xã S, huyện Thái Th y, tỉnh Thái Bình.
Tại phiên Tòa có mặt bị cáo, bà L, anh C vắng mặt anh V, chị H.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên toà, nội dung v án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01 giờ ngày 22/01/2020, Phạm Văn X đi bộ về nhà qua hu vực nhà anh Bùi Hữa V thì phát hiện thấy đèn điện trong nhà vệ sinh của gia đình anh V bật đèn sáng nên nảy sinh định trộm cắp tài sản. X đứng ngoài cổng quan sát hoảng 05 phút thì trèo qua tường rào phía trước, đi vào lối cửa phía bên trái nhà anh V (cửa bên trái nhà anh V mở) vào bên trong nhà. X nhìn thấy anh V đang ngủ trên giường, phía cuối giường có để 01 chiếc điện thoại di động đang sạc pin, X tiến lại gần cầm chiếc điện thoại, rồi tiếp t c dùng tay phải móc trong túi quần dài bên trái phía trước của anh V, đang mặc lấy 01 chiếc ví giả da màu đen. Sau đó, X cất giấu chiếc ví và chiếc điện thoại vào túi quần đang mặc, theo lối cũ trèo ra ngoài về nhà. Sau hi về nhà, X iểm tra chiếc ví thấy bên trong có số tiền 2.000.000 đồng, 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 thẻ ngân hàng ShinhanBan , 01 thẻ ngân hàng VietinBan , 01 giấy phép lái xe, 01 đăng xe biển số 17B6–438.99 đều mang tên Bùi Hữa V. Số tiền 2.000.000 đồng X chi tiêu cá nhân hết, chiếc ví và một số giấy tờ X cất giấu ở hu vực giường ngủ của mình. Ngày 23/01/2020 X iểm tra xem phần tin nhắn trong điện thoại của anh V phát hiện tài hoản tại ngân hàng ShinhanBank của anh V có số tiền hoảng hơn 20.000.000 đồng và tài hoản tại ngân hàng VietinBan của anh V có số tiền hoảng hơn 1.900.000 đồng. Các tài hoản ngân hàng này đều liên ết với ứng d ng ví MOMO và VIETTEL PAY. X đăng nhập vào ứng d ng ví MOMO trên điện thoại của anh V thì thấy ứng d ng bị hóa bằng mật hẩu. X sử d ng ngày, tháng, năm sinh trên giấy chứng minh nhân dân của anh V để đăng nhập thử vào ứng d ng thì việc đăng nhập thành công. Do nghiện trò chơi điện tử nên X đã tải trò chơi điện tử GAMVIP về điện thoại rồi sử d ng ví MOMO và VIETTEL PAY chuyển tiền mua thẻ điện thoại và chuyển hoản để nạp vào trò chơi để chơi điện tử. Các lần được thực hiện như sau:
Lần thứ nhất: Ngày 23/01/2020, X chuyển tiền từ tài hoản của Ngân hàng Shinhan Ban 02 lượt, mỗi lượt 5.000.000 đồng vào ví MOMO, sau đó sử d ng ví MOMO mua thẻ điện thoại nạp vào trò chơi điện tử và đã chơi hết số tiền 10.000.000 đồng này.
Lần thứ hai: Ngày 24/01/2020, X vào ứng d ng VIETTELPAY để mua thẻ nạp điện thoại từ tài hoản của ngân hàng VietinBan của anh V 03 lượt, lượt thứ nhất 1.000.000 đồng, lượt thứ hai 500.000 đồng, lượt thứ ba 400.000 đồng để chơi điện tử.
Lần thứ ba: Phát hiện thấy tài hoản ngân hàng bị mất tiền, anh Bùi Hữa V đã gọi điện thoại lên tổng đài Viettel để hóa chiều gọi đi. Ngày 26/01/2020, Phạm Văn X phát hiện SIM điện thoại của anh V bị hóa nên đã đến cửa hàng Viettel chi nhánh Thái Th y tại thị trấn Diêm Điền, huyện Thái Th y sử d ng Chứng minh nhân dân của anh V, mở lại SIM số điện thoại 0356997518 của anh V. Sau hi mở được SIM, X tiếp t c chuyển tiền từ tài hoản của ngân hàng Shinhan Ban vào ứng d ng ví MOMO 02 lượt, lượt thứ nhất số tiền 10.000.000 đồng, lượt thứ hai số tiền 650.000 đồng. Số tiền trên cùng số tiền cũ còn lại trong ví MOMO, X chuyển vào tài hoản “NGUYEN CONG MINH” có số tài hoản “46510000494373” số tiền 11.000.000 đồng của ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV) chủ tài hoản là Nguyễn Công Minh, sinh ngày 09/02/2004 trú tại thôn Trà Bồ, xã Phan Sào Nam, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên để người sử d ng tài hoản này nạp vào trò chơi “GAMVIP” cho X. Sau đó X chơi trò chơi “GAMVIP” hết số tiền đó.
Đối với chiếc điện thoại, đến hoảng đầu tháng 3/2020, X đem bán chiếc điện thoại cho quán điện thoại di động “An An” ở thôn P, xã S, huyện Thái Th y, tỉnh Thái Bình do anh Vũ Văn C làm chủ được 1.000.000 đồng. Số tiền bán điện thoại, bị cáo X chi tiêu cá nhân hết. Đến ngày 14/4/2020, Phạm Văn X đến Công an huyện Thái Th y tự thú và giao nộp chiếc ví giả da đã cũ cùng toàn bộ giấy tờ trộm cắp của anh V cho Cơ quan điều tra.
Bản ết luận định giá tài sản số 17 ngày 22/4/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố t ng huyện Thái Th y, ết luận: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG J7 Pro màu vàng có giá trị là 2.600.000 đồng tại thời điểm xâm hại ngày 22/01/2020.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn X hông có iến hay hiếu nại về ết luận định giá nêu trên và thừa nhận toàn bộ hành vi của bị cáo.
Bản cáo trạng số 61/CT- VKSTT ngày tháng 5 năm 2020 của Viện iểm sát nhân dân huyện Thái Th y truy tố bị cáo Phạm Văn X về tội "Trộm cắp tài sản" theo hoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm như đã truy tố với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn X phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp d ng hoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50, điểm b, r, s hoản 1, hoản 2 Điều 51, điểm g, h hoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với đối với bị cáo Phạm Văn X xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù.
Không áp d ng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, hông yêu cầu gì thêm nên hông đặt ra giải quyết.
Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã giải quyết xong nên hông đặt ra giải quyết.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Phạm Văn X, anh Vũ Văn C hông có iến gì về tội danh, điều luật áp d ng, mức hình phạt, xử l vật chứng và hông tranh luận.
Bà Hà Thị L xác nhận bị cáo đã tác động đến bà và gia đình để bồi thường thiệt hại cho người bị hại. Bà đã thay bị cáo bồi thường cho anh V số tiền 27.150.000 đồng. Bà hông yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền trên và đề nghị hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Anh Bùi Hữa V vắng mặt tại phiên Tòa nhưng đã có đơn xác nhận đã nhận được tiền bồi thường, hông yêu cầu bị cáo bồi thường thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin lỗi bị hại, nhận ra hành vi phạm tội của bản thân là sai trái. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau :
1 Về hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thái Th y, Điều tra viên, Viện iểm sát nhân dân huyện Thái Th y, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố t ng, hông ai có iến hoặc hiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
. Tại phiên Tòa vắng mặt bị hại anh Bùi Hữa V và người liên quan chị Nguyễn Thị H vắng mặt nhưng tại giai đoạn điều tra họ đã có lời hai đầy đủ lưu trong hồ sơ v án. Hội đồng xét xử xét thấy việc họ vắng mặt hông ảnh hưởng đến quá trình giải quyết v án, vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử v án.
. Tại phiên Tòa bị cáo Phạm Văn X hai nhận: Lợi d ng đêm tối, bị hại đang ngủ, bị cáo đã có hành vi trèo qua tường rào, vào nhà anh V trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động và 01 ví da bên trong có 2.000.000 đồng, 01 thẻ ATM ngân hàng Shinhan Ban , 01 thẻ ATM ngân hàng VietinBan và một số giấy tờ hác đều mang tên Bùi Hữa V. Sau hi trộm cắp tài sản, bị cáo đã sử d ng điện thoại trộm cắp được để dò tìm được mật hẩu và đã 3 lần thực hiện hành vi chuyển tiền ra hỏi tài hoản của anh V để chiếm đoạt tài sản và bán chiếc điện thoại di động. Tổng số tiền và tài sản mà bị cáo Phạm Văn X đã chiếm đoạt của anh V là 27.150.000 đồng. Toàn bộ số tiền chiếm đoạt được, X đã chi tiêu cá nhân và sử d ng chơi điện tử hết. Lời hai của bị cáo phù hợp với lời hai tại cơ quan điều tra và còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau: Đơn đề nghị và lời hai của bị hại, lời hai của người có quyền lợi nghĩa v liên quan; bản ết luận định giá tài sản trong tố t ng hình sự và các tài liệu chứng cứ hác có trong hồ sơ v án. Như vậy đủ căn cứ để xác định bị cáo Phạm Văn X đã phạm vào “Trộm cắp tài sản” quy định tại hoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
[4 . Về tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ bị cáo đã tác động đến gia đình để tự nguyện bồi thường hắc ph c hậu quả; bị cáo ra tự thú; người phạm tội thành hẩn hai báo; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt quy định tại điểm b, s, r hoản 1; hoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo phải chịu hai tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội từ hai lần trở lên và tái phạm quy định tại điểm g, h hoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tài sản của người hác được pháp luật bảo vệ, gây tâm l hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân. Bị cáo tuổi đời còn trẻ, có sức hỏe nhưng hông chịu lao động mà ham chơi bời, muốn hưởng th trên sức lao động của người hác. Bị cáo có nhân thân xấu, đã có tiền án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích nhưng hông lấy đó làm bài học mà lại tiếp t c phạm tội thể hiện sự coi thường pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải xử phải cách ly bị cáo ra hỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác d ng răn đe, giáo d c và phòng ngừa chung. Đồng thời cũng là bài học giúp bị cáo nhận ra lỗi lầm đã phạm phải để phấn đấu trở thành công dân tốt cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ hình phạt, sau hi phạm tội bị cáo đã ăn năn hối cải về hành vi của mình ra tự thú và tác động đến gia đình hắc ph c toàn bộ hậu quả nên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách nhân đạo, hoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.
. Bị cáo hông có tài sản riêng, nên hông áp d ng hình phạt bổ sung theo quy định tại hoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.
. 01 ví da màu đen, đã cũ, anh V hông yêu cầu định giá; 01 giấy chứng minh nhân dân; 01 thẻ ngân hàng Shinhan Ban ; 01 thẻ ngân hàng VietinBan ; 01 giấy phép lái xe; 01 đăng xe biển iểm soát 17B6 - 438.99 đều mang tên Bùi Hữa V. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử l vật chứng trả lại cho anh Bùi Hữa V là chủ sở hữu quản l , sử d ng. Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG J7 PRO, quá trình điều tra X hai đã bán chiếc điện thoại trên cho cửa hàng điện thoại An An do anh Vũ Văn C làm chủ. Do thời gian đã lâu nên anh C hông nhớ việc mua bán chiếc điện thoại đó nên Cơ quan điều tra hông thu hồi được và hông có căn cứ để xử l đối với anh C.
9 .Đối với anh Nguyễn Công Minh là chủ tài hoản tại ngân hàng BIDV có số tài hoản “46510000494373” mà bị cáo Phạm Văn X chuyển tiền vào để nạp vào ứng d ng trò chơi “GAMVIP”. Quá trình điều tra xác định anh Nguyễn Công Minh đã bị mất chiếc thẻ ATM cùng mật mã của thẻ, anh chưa sử d ng chiếc thẻ này và hông biết gì về việc bị cáo chuyển tiền vào tài hoản đó nên Cơ quan điều tra hông có căn cứ xử l đối với anh Minh. Đối với hành vi chơi trò chơi trên ứng d ng “GAMVIP” của Phạm Văn X có dấu hiệu của hành vi đánh bạc. Tuy nhiên, do tính chất phức tạp, đến nay chưa có đủ căn cứ chứng minh bị cáo X có đánh bạc hay hông, đánh bạc với ai, ở đâu, được thua như thế nào nên Cơ quan điều tra tiếp t c điều tra, xác minh làm rõ, hi nào có căn cứ sẽ xử l sau. Đối với chị Nguyễn Thị H là nhân viên cửa hàng Viettel huyện Thái Th y đã mở hóa SIM cho bị cáo Phạm Văn X. Quá trình mở hóa SIM, chị H hông biết bị cáo X đã sử d ng Chứng minh thư nhân dân của anh Bùi Hữa V để mở SIM. Chị hông biết m c đích của bị cáo, đồng thời chị cũng là người bị X lừa dối. Do đó Cơ quan điều tra hông xử l đối với chị H vai trò đồng phạm trong v án là có căn cứ. Đối với hành vi bị cáo X sử d ng các ứng d ng điện tử, viễn thông, tài hoản ngân hàng để chuyển tiền, bị cáo hông sử d ng công nghệ, hay phần mềm thứ ba để đăng nhập vào các ứng d ng, mà do bị cáo trộm cắp được các thiết bị anh V đã tạo lập sẵn rồi tự nhập mật hẩu để dò tìm và chiếm đoạt tài sản. Hành vi nêu trên của X đã cấu thành tội phạm được quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó hành vi của bị cáo hông thuộc trường hợp “tội sử dụng mạng viễn thông, phương tiện điệm tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 290 Bộ luật hình sự.
. Bị hại đã nhận lại tài sản và được gia đình bị cáo bồi thường thiệt hại hông có yêu cầu gì nên hông đặt ra giải quyết.
.Về án phí và quyền háng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được háng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn X phạm tội "Trộm cắp tài sản".
2. Về hình phạt: Căn cứ hoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50, điểm b, r, s hoản 1, hoản 2 Điều 51, điểm g, h hoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn X 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/4/2020.
Không áp d ng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về trách nhiệm dân sự: Đã bồi thường xong nên hông đặt ra giải quyết.
4. Về xử l vật chứng: Đã xử l nên hông đặt ra giải quyết.
5. Về án phí: Căn cứ hoản 2 Điều 136, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Phạm Văn X phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm .
6. Về quyền háng cáo bản án: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố t ng Hình sự. Bị cáo, bà L, anh C có mặt có quyền háng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày ể từ ngày tuyên án. Anh V, chị H vắng mặt có quyền háng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày ể từ ngày nhận được bản án hoặc bản bản được niêm yết công hai theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Người tham gia tố t ng; - VKSND Thái Th y; - Trại tạm giam Thái Bình; - Công an Thái Th y; - Chi c c THADS Thái Th y; - Tòa án tỉnh Thái Bình; - VKSND tỉnh Thái Bình; - Lưu HCTP; - Hồ sơ v án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẤM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Văn Vương |