- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn L trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 đôi ủng màu đỏ cam (đã qua sử dụng), 01 mũ lá (đã qua sử dụng) và 01 áo mưa kéo khóa màu xanh tím than đã cũ (Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 18 tháng …
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2020/HS-ST Ngày 13-7-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN,THÀNH PHỐHẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Lý.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Doãn Văn Sáng
Ông Phạm Công Hạ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 56/2020/TLST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2020/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:
Phạm Văn L , sinh năm 1985 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn 3, xã C , huyện T , thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam, tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T và bà Phạm Thị M ; vợ: Nguyễn Thị M , có 01 con; tiền án: Không; tiền sự: Năm 2017 Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đến ngày 16/6/2018 thi hành xong; Ngày 10/01/2020 Chủ tịch UBND xã C, huyện T , thành phố Hải Phòng ra Quyết định số 01c áp dụng biện pháp giáo dục về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; bị bắt tạm giam từ ngày 08 tháng 4 năm 2020; có mặt.
Bị hại:
- Bà Đỗ Thị M , sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn 3, xã C , huyện T , thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Bà Phạm Thị H , sinh năm 1966; địa chỉ: Thôn 3, xã C , huyện T , thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Anh Đào Xuân H ; sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn 4, xã M , huyện T , thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Anh Bùi Tuấn A , sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn 2, xã C , huyện T , thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do bản thân nghiện ma túy nên Phạm Văn L đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác để mang bán lấy tiền ăn tiêu cá nhân, mua ma túy sử dụng. Khoảng 08 giờ 45 phút ngày 07/4/2020, L đi bộ từ nhà mình đến thôn 2, xã C , khi đi qua cổng nhà chị Phạm Kim N , L phát hiện chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius màu đỏ đen mang biển kiểm soát 15B1-495.32 của chị Đỗ Thị M đang dựng trước cổng nhà chị N , chìa khóa xe mô tô trên vẫn cắm trong ổ khóa điện, không có ai trông coi nên nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe trên. L đi đến dắt chiếc xe trên ra ngoài đường rồi nổ máy điều khiển xe đi đến cửa hàng sửa chữa xe mô tô của anh Đào Xuân H . Tại đây L nói với anh H là xe của L , muốn cầm cố để vay anh H 450.000 đồng. Anh H đồng ý đưa cho L 450.000 đồng và giữ lại xe mô tô. Số tiền có được, L sang khu vực gần chợ Quán Toan, quận Hồng Bàng mua ma túy sử dụng và ăn tiêu hết.
Chị Đỗ Thị M phát hiện mất xe đã xem lại camera an ninh tại cổng nhà chị N nhận ra L là người lấy xe của chị nên đã trình báo Công an xã C . Công an xã C triệu tập L đến làm việc, L đã khai nhận lấy xe của chị Đỗ Thị M và tự nguyện giao nộp 01 đôi ủng bằng nhựa dẻo màu cam, 01 mũ lá và 01 áo mưa màu xanh tím than ( là các đồ vật L mang mặc khi thực hiện lấy xe của chị M ngày 07/4/2020).
Ngày 08/4/2020, Phạm Văn L bị Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Thủy Nguyên bắt tạm giam. Tại Cơ quan điều tra, L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, ngoài ra L còn khai nhận: Khoảng 14 giờ ngày 04/4/2020, L đi bộ từ nhà mình sang nhà bà Phạm Thị H , L phát hiện 01 chiếc Loa nhãn hiệu MBA, màu đen, kích thước: 60x40x35, phần chân loa có bánh xe, để trên hiên nhà bà H . L kéo chiếc loa ra ngoài cổng rồi cho vào bao tải dứa mang đến nhà Bùi Tuấn A , sinh năm 1989 ở thôn 2, xã C. L nói chiếc loa của L và bán cho Tuấn A với giá 500.000 đồng, L mua ma túy sử dụng hết
Tại bản Cáo trạng số 62/CT-VKS ngày 19 tháng 6 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên truy tố Phạm Văn L về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phạm Văn L từ 18 đến 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 08/4/2020. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 đôi ủng bằng nhựa dẻo màu cam, 01 mũ lá và 01 áo mưa màu xanh tím than. Truy thu 950.000 đồng là tiền thu lợi bất chính của bị cáo. Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Phạm Văn L khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng đã nêu, lời nói sau cùng bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt tù cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thủy Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Hành vi, quyết định tố tụng của thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
. Tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn L khai cáo trạng Viện kiểm sát truy tố là đúng với hành vi mà bị cáo thực hiện. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, các tài liệu chứng cứ khác đã được công bố, thẩm tra công khai tại phiên tòa. Như vậy có đủ cơ sở kết luận ngày 04/4/2020 Phạm Văn L lén lút chiếm đoạt 01 chiếc loa của bà Phạm Thị H trị giá 2.500.000 đồng và ngày 07/4/2020 L chiếm đoạt 01 chiếc mô tô của chị Đỗ Thị M trị giá 10.000.000 đồng. Hành vi của Phạm Văn L đã phạm tội Trộm cắp tài sản, quy định khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo hai lần thực hiện hành vi phạm tội là phạm tội hai lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tự nguyện khai ra hành vi trộm cắp chiếc loa của nhà bà Hòa là tự thú là các tình tiết giảm giảm nhẹ quy định tại điểm s, r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
. Về phần hình phạt: Căn cứ vào mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, căn cứ vào sự thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, nhưng bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, có hai tiền sự về việc đưa đi cai nghiện bắt buộc và áp dụng biện pháp giáo dục tại xã về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đang làm hồ sơ đưa đi cai nghiện bắt buộc thì bị bắt tạm giam. Vì vậy có thể áp dụng mức hình phạt tù trên mức khởi điểm của khung hình phạt tù là thỏa đáng. Khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền, nhưng bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về dân sự: Bà Phạm Thị H , chị Đỗ Thị M , anh Bùi Tuấn A và anh Đào Xuân H không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét đề cập giải quyết.
. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: 01 đôi ủng màu đỏ cam (đã qua sử dụng), 01 mũ lá (đã qua sử dụng) và 01 áo mưa kéo khóa màu xanh tím than đã cũ là vật chứng liên quan đến vụ án, cần tịch thu tiêu hủy.
. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phạm Văn L 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 08 tháng 4 năm 2020.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 đôi ủng màu đỏ cam (đã qua sử dụng), 01 mũ lá (đã qua sử dụng) và 01 áo mưa kéo khóa màu xanh tím than đã cũ (Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 18 tháng 6 năm 2020 và phiếu nhập kho số NK2020/63 ngày 18 tháng 6 năm 2020).
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTTQH của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án bị cáo Phạm Văn L phải nộp 200.000 ( Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi nghía cụ liên quan đến vụ án; - VKSND huyện Thuỷ Nguyên; - VKSND thành phố Hải Phòng; - Cơ quan điều tra công an huyện Thuỷ Nguyên; - Cơ quan THAHSCA huyện Thuỷ Nguyên; - Trại giam công an thành phố Hải Phòng; - Trại tạm giam công an huyện Thuỷ Nguyên; - TAND thành phố Hải Phòng; - Công an thành phố Hải Phòng; - Chi cục THADS huyện Thuỷ Nguyên; - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hồng Lý |