- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Phú C- Sử dụng tài liệu giả của cq - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của c…"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ Khoản 1 Điều 341; Điểm h, i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 129 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2020/HS-ST Ngày: 02-7-2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Lan.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Liễu;
2. Ông Võ Văn Trung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hạnh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Duy Thanh, Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 66/2020/TLST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2020/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Phú C (tên gọi khác: P), sinh năm 1970 tại: tỉnh Tây Ninh. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: khu phố HA, phường HT, thị xã HT1, tỉnh Tây Ninh; Nơi cư trú hiện nay: khu phố HB, phường HN, thành phố TN, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam ; Tôn giáo: Cao đài; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1927 (Đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1934; Vợ: Bà Nguyễn Kim N, sinh năm 1969; có 04 người con: người con lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 2002; Tiền án, tiền sự: Không có;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 02-4-2020 đến ngày 02-6-2020; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 08/02/2018, Nguyễn Phú C thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN QSDĐ) số CL425282 do C và vợ là Nguyễn Kim N cùng đứng tên quyền sử dụng cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi nhánh tỉnh Tây Ninh - Phòng giao dịch Chợ Mới để vay số tiền 02 (hai) tỷ đồng. Trong hồ sơ vay chỉ có một mình C đứng tên vay do có giấy ủy quyền của bà N cho C được mua bán, vay, thế chấp ngân hàng đối với GCN QSDĐ số CL425282 thời gian là 05 (năm) năm, kể từ ngày 05/02/2018. Số tiền vay được C sử dụng riêng, vợ và các con không biết về khoản vay này.
Đến tháng 4/2018, C đi mua bán xe tại tỉnh Đồng Nai, khi đang ngồi uống nước và nói chuyện cùng với bạn, C cho biết đã thế chấp giấy đất để vay tiền làm ăn nhưng muốn vợ không biết. Lúc này, có một người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) đến nói chuyện với C và cho biết có thể làm giấy tờ giả, giống giấy thật, chỉ cần cung cấp bản phô tô của giấy thật và tiền công là 5.000.000 đồng/giấy, C đồng ý. Do đã thế chấp giấy đất để lấy tiền sử dụng riêng mà vợ không biết, C muốn làm 01 (môt) giấy đất giả để đối phó với vợ nên đưa 01 (một) bản phô tô của GCN QSDĐ số CL425282 và 5.000.000 đồng đưa cho người đàn ông này, đồng thời cho số điện thoại để liên lạc. Vài ngày sau, người này điện thoại cho C hẹn đến quán nước và đưa cho C 01 (một) GCN QSDĐ số CL425282 giả. Sau khi nhận được GCN QSDĐ giả, C đem về cất trong tủ chung với các GCN QSDĐ khác để bà N không nghi ngờ.
Tháng 10/2019, C bị tai biến, xuất huyết não; sau thời gian điều trị, C cùng vợ và các con đã thống nhất về việc sang tên các tài sản do hai vợ chồng cùng đứng tên cho bà N đứng tên một mình để thuận lợi trong việc quản lý, sử dụng. Ngày 28/11/2019, bà N lấy 03 GCN QSDĐ số CL425282, CD370509, CQ173843 và cùng C đến UBND phường Hiệp Ninh, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh để làm thủ tục chứng thực hợp đồng tặng cho từ C sang cho bà N. Ngày 10/12/2019, Văn phòng Đăng ký Đất đai tỉnh Tây Ninh - Chi nhánh thành phố Tây Ninh tiếp nhận hồ sơ xin cấp GCN QSDĐ của bà N; sau khi kiểm tra, đối chiếu hồ sơ phát hiện GCN QSDĐ số CL 425282 có dấu hiệu làm giả nên đã chuyển hồ sơ và giấy tờ có liên quan đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh để điều tra, xác minh làm rõ vụ việc.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh Nguyễn Phú C thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
* Kết luận giám định số 292/KL-KTHS ngày 02/3/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL425282, số vào sổ cấp GCN: CS05964, ngày 10/10/2017 cần giám định là giả được in bằng phương pháp in phun màu.
* Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: Thu 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất giả số CL425282, số vào sổ cấp GCN: CS05964 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tây Ninh cấp ngày 10/10/2017 cho Nguyễn Phú C và Nguyễn Kim N đứng tên sở hữu (kèm hồ sơ vụ án).
Ngày 04/5/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh thực hiện Lệnh phong tỏa tài khoản số 5700601925182 của Nguyễn Phú C tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh tỉnh Tây Ninh-Phòng giao dịch khu vực Hiệp Ninh, số tiền bị phong tỏa là 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng).
* Bản cáo trạng số: 71/CT-VKSTPTN ngày 24-5-2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh đã truy tố bị cáo: Nguyễn Phú C về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan” theo quy định tại Khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh trình bày bản luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phú C phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan”. Căn cứ Khoản 1 Điều 341; Điểm h, i, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Phú C từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
* Bị cáo C không tự bào chữa, không tranh luận.
* Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất ăn năn, hối cải về hành vi của bị cáo nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Phú C đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định:
Ngày 08-02-2018, bị cáo C đã thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất thật số CL425282, số vào sổ cấp GCN: CS05964 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tây Ninh cấp ngày 10/10/2017 cho Ngân hàng Agribank để vay tiền, nhưng vì để bà N- vợ bị cáo không biết nên bị cáo đã nhờ người khác làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất nêu trên. Tháng 10/2019, do bị cáo bị bệnh nên ngày 28/11/2019, bà N lấy 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CL425282, CD370509, CQ173843 và cùng C đến Ủy ban nhân dân phường Hiệp Ninh, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh để làm thủ tục chứng thực hợp đồng tặng cho từ C sang cho bà N. Ngày 10/12/2019, nộp hồ sơ tại Văn phòng Đăng ký Đất đai tỉnh Tây Ninh - Chi nhánh thành phố Tây Ninh thì Văn phòng đăng ký phát hiện là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất có vấn đề và được giám định là giấy giả.
Tại phiên tòa, bị cáo C thừa nhận hành vi phạm tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ kết luận bị cáo C phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan” được quy định tại Khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.
Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết hành vi sử dụng giấy tờ giả là hành vi vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Tuy việc bị cáo sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả không nhằm mục đích trục lợi với người khác mà chỉ để vợ của bị cáo không phát hiện việc bị cáo đã đem giấy đất đi thế chấp ngân hàng nhưng hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về trật tự hành chính, xâm phạm đến hoạt động bình thường và uy tín của các cơ quan Nhà nước nên cần được xử lý nghiêm mới có tác dụng răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại Điểm h, i, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Sau khi xem xét tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm của bị cáo, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh đề nghị phạt tiền là có căn cứ, bởi bị cáo có tài sản đảm bảo thi hành án nên Hội đồng xét xử xét thấy áp dụng hình phạt tiền cũng đủ răn đe giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội.
Về xử lý vật chứng: 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất giả số CL425282, số vào sổ cấp GCN: CS05964 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tây Ninh cấp ngày 10/10/2017 cho Nguyễn Phú C và Nguyễn Kim N đứng tên sở hữu đã được lưu trong hồ sơ vụ án.
Xử lý đối với các tài sản kê biên:
Tiếp tục phong tỏa tài khoản của bị cáo Nguyễn Phú C theo Lệnh phong tỏa tài khoản số 07 ngày 03/5/2020 của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tây Ninh để đảm bảo thi hành án.
Đối với người đàn ông đã nhận làm và giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả cho C không rõ họ tên, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tây Ninh chưa làm việc được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ Khoản 1 Điều 341; Điểm h, i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phú C phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phú C 30.000.000 đồng.
Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 43 ngày 02-4-2020 của Công an thành phố Tây Ninh đối với bị cáo Nguyễn Phú C.
[2] Xử lý đối với các tài sản kê biên: Căn cứ Điều 129 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tiếp tục phong tỏa tài khoản của bị cáo Nguyễn Phú C theo Lệnh phong tỏa tài khoản số 07 ngày 03/5/2020 của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tây Ninh để đảm bảo thi hành án.
[3] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Khoản 2 Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo Nguyễn Phú C phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
[5] Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV-TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND thành phố Tây Ninh; - Công an thành phố Tây Ninh; - Chi cục THADS thành phố Tây Ninh; - Những người tham gia tố tụng; - THA-HS thành phố Tây Ninh; - Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; - Lưu tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Lan |