vanban.org

Bản án 61/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 20/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tuyên bố: Bị cáo Lê Bảo Quốc phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt: Lê Bảo Quốc 12 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM THUẬN BẮC
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2020/HS-ST
Ngày: 20/8/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kim Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Bến

2. Bà Trần Thị Kim Trang

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận

tham gia phiên tòa: Ông Lương Tiểu Hậu – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc,

tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 61/2020/TLST-HS

ngày 20 tháng 7 năm 2020; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2020/QĐXXST-HS

ngày 05/8/2020, đối với bị cáo:

LÊ BẢO Q - sinh năm 2000 tại tỉnh Bình Thuận; Nơi cư trú: Thôn Thiện T, xã

T, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận; Nghề ngH: làm thuê; Trình độ học vấn:

06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông không rõ và bà Lê Thị Hồng; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang bị

áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú số 56 ngày 21/5/2020 của Cơ

quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hàm Thuận Bắc từ ngày 21/5/2020 đến ngày

21/7/2020. Và Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 34/2020/HSST-LCĐKNCT ngày

20/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận. Bị cáo có

mặt.

Bị hại: Anh Đoàn T, sinh năm 1984 (vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố Phú Xuân, thị trấn P, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

Người làm chứng:

- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1985 (vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố 14, phường Mũi Né, Tp Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

- Anh Huỳnh Thành H, sinh năm 1996 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Liêm Thái, xã Hồng Liêm, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình

Thuận.

- Bà Đặng Thị H, sinh năm 1950 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Thiện T, xã T, Tp Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án

được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 09/3/2020, Lê Bảo Quốc, sinh năm 2000, ở thôn

Thiện T, xã T, thành phố Phan Thiết đến Tiệm giặt ủi Thanh Mai, tại khu phố Phú Xuân, thị trấn P, huyện Hàm Thuận Bắc làm việc. Khoảng 30 phút sau, Lê Bảo Quốc đói bụng nên mượn xe mô tô, biển số 86B3 – 467.36 của Huỳnh Thành H, sinh năm 1996, ở thôn Liêm Thái, xã Hồng Liêm là người làm chung để đi mua đồ ăn sáng thì H đồng ý cho mượn. Lê Bảo Quốc đi ra chỗ để xe mô tô nhưng do trong người không còn tiền nên Quốc quay lại tìm Huỳnh Thành H để mượn tiền. Trong lúc tìm Huỳnh Thành H, Lê Bảo Quốc nhìn thấy trên nóc tủ lạnh gần phòng kế toán của Tiệm giặt ủi có một điện thoại di động Samsung Note 10 của Đoàn T, sinh năm 1984, thường trú ở tại xã Sông Rây, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai, tạm trú ở khu phố Phú Xuân, thị trấn P là người cùng làm chung ở Tiệm giặt ủi Thanh Mai. Lúc này, Lê Bảo Quốc nảy sinh ý định chiếm đoạt để bán lấy tiền tiêu xài, nhìn xung quanh không thấy có ai trông coi điện thoại, Lê Bảo Quốc lén lút lấy điện thoại bỏ vào túi quần rồi đi ra. Sau đó, Lê Bảo Quốc điều khiển xe mô tô, biển số 86B3 – 467.36 đến Tiệm điện thoại Thành T gặp Nguyễn Văn T, ở khu phố 4, phường Mũi Né, thành phố Phan Thiết là chủ tiệm. Lê Bảo Quốc lấy điện thoại di động Samsung Note 10 mới vừa chiếm đoạt ra, nói với Nguyễn Văn T là điện thoại của mình mới mua, vừa đổi mật khẩu nhưng quên nên muốn bán. Nguyễn Văn T tin tưởng nên đồng ý mua với giá 3.000.000đồng, số tiền này, Lê Bảo Quốc đã tiêu xài cá nhân hết. Sau khi phát hiện mất điện thoại, Đoàn T trình báo sự việc đến Công an thị trấn P và tìm đến gặp bà Đặng Thị H, sinh năm 1950, là bà ngoại của Lê Bảo Quốc để yêu cầu Quốc trả lại điện thoại. Đến tối cùng ngày, khi Lê Bảo Quốc về nhà, Đặng Thị H hỏi việc chiếm đoạt điện thoại của Đoàn T thì Quốc nói đã bán cho Nguyễn Văn T. Đặng Thị H cùng Lê Bảo Quốc đến gặp Nguyễn Văn T để chuộc lại điện thoại thì Nguyễn Văn T đã bán cho một người khách (không rõ họ tên, địa chỉ), chỉ còn giữ lại hai sim số 0382029521 và 0346412506. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Hàm Thuận Bắc tiếp nhận tin báo từ Công an thị trấn P, mời Lê Bảo Quốc về làm việc, Quốc đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Kết luận định giá tài sản số 25/2020/HĐĐGTT ngày 09/4/2020 của Hội đồng

định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hàm Thuận Bắc, kết luận: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Note 10 mua vào tháng 02/2020. Giá trị tại thời điểm định giá là 14.000.000đồng, giá trị sử dụng còn lại là 90%. Thành tiền là 12.600.000đồng. Tổng giá trị tài sản định giá là 12.600.000đồng.

Vật chứng thu giữ và xử lý: 02 sim số Viettel 4G là 0382029521 và

0346412506, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hàm Thuận Bắc đã ra Quyết

định xử lý vật chứng, trả lại cho bị hại Đoàn T.

Về dân sự: Anh Đoàn T yêu cầu bồi thường số tiền 12.600.000đồng, Lê Bảo

Quốc chưa bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 65/CT/VKSHTB-HS ngày 20/7/2020 của Viện kiểm sát

nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc truy tố: Bị cáo Lê Bảo Quốc về tội “Trộm cắp tài

sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc: Giữ

nguyên quan điểm truy tố tại cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1

Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Bảo Quốc từ

09 đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự năm

2015; Điều 584, 585, 586 Bộ luật dân sự năm 2015, buộc bị cáo Lê Bảo Quốc bồi

thường cho anh Đoàn T số tiền 12.600.000đồng.

- Ý kiến của bị cáo Lê Bảo Quốc: Bị cáo bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” là

đúng, không oan. Bị cáo đồng ý bồi thường cho anh Đoàn T số tiền 12.600.000đồng

và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hàm

Thuận Bắc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, Kiểm sát

viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ

tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có

người nào có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố

tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến

hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đối với người bị hại, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong

hồ sơ vụ án đã có lời khai của họ, được cơ quan điều tra lấy lời khai theo đúng qui

định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, sự vắng mặt của những người trên không

ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự Hội

đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người trên.

[3] Tại phiên tòa, bị cáo Lê Bảo Quốc khai nhận về hành vi phạm tội của bị cáo

đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã truy tố.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại Tòa phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra Công an huyện Hàm Thuận Bắc, các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ căn cứ pháp luật để khẳng định: Khoảng 6 giờ 30 phút ngày 09/3/2020, Lê Bảo Quốc đã lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Note 10 của anh Đoàn T tại tiệm giặt ủi Thanh Mai, tổng giá trị tài sản 12.600.000đồng.

Hành vi trên của bị cáo Lê Bảo Quốc đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài

sản" quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.

[4] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra, tại phiên

tòa bị cáo Lê Bảo Quốc khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi do bị cáo gây ra, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo không có tiền án, tiền sự nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định pháp luật.

[6] Về hình phạt:

Đối với mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo, Hội

đồng xét xử căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt như đề nghị của Viện kiểm sát Hội đồng xét xử sẽ xem xét quyết định khi lượng hình.

Từ những phân tích trên, căn cứ tính chất và mức độ phạm tội thì hành vi của

bị cáo thể hiện sự xem thường kỷ cương pháp luật, xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác gây bất bình, tạo ra tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân, gây mất an ninh trật tự địa phương là nguy hiểm cho xã hội. Do đó, cần thiết phải lên cho bị cáo mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[7] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Anh Đoàn T yêu cầu bị cáo bồi

thường giá trị tài sản bị chiếm đoạt theo kết luận định giá là 12.600.000đồng. Xét đây là yêu cầu chính đáng nên chấp nhận.

Vật chứng thu giữ: 02 sim số Viettel 4G là 0382029521 và 0346412506, Cơ

quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hàm Thuận Bắc đã trả lại cho bị hại Đoàn T và anh T không yêu cầu gì nên Tòa án không xem xét giải quyết.

[8] Về các vấn đề khác:

Đối với Nguyễn Văn T là người mua điện thoại di động nhưng không biết đó là

tài sản do Lê Bảo Quốc chiếm đoạt của người khác nên Viện kiểm sát nhân dân

huyện Hàm Thuận Bắc không khởi tố về tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do

người khác phạm tội mà có” quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự là có căn cứ,

đúng pháp luật.

Bị cáo Lê Bảo Quốc phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm

theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự

năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tuyên bố: Bị cáo Lê Bảo Quốc phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Lê Bảo Quốc 12 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính

từ ngày bị bắt đi thi hành án.

Về bồi thường dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 584,

585, 586 và 357, 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Bị cáo Lê Bảo Quốc bồi thường cho anh Đoàn T số tiền 12.600.000đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các

khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên

phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo

mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ

trường hợp pháp luật có quy định khác.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị

quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội

Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa

án.

Bị cáo Lê Bảo Quốc phải nộp 200.000đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình

sự sơ thẩm và 630.000đồng (sáu trăm ba mười ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền

kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (20/8/2020).

Riêng bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận

được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân

sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa

thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng

chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời

hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ