vanban.org

Bản án 61/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 10/09/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/09/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Chẻng S. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2020/HS-ST ngày 11/02/2020 của Toà án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Áp d ng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Hoàng Chẻng S 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được t nh từ ngày bắt bị cáo thi hành án; được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 28/8/2019 đến ngày … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoang Cheng S - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Chẻng S. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2020/HS-ST ngày 11/02/2020 của Toà án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố t ng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2020/HS-PT
Ngày: 19-5-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Thạch;

Các Thẩm phán:

Ông Trương Văn Lộc;

Bà Nguyễn Thị Sang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 15 và 19 tháng 5 năm 2020, tại tr s Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương m phiên tòa phúc thẩm công khai xét xử v án hình sự phúc thẩm th lý số: 46/2020/TLPT-HS ngày 25 tháng 3 năm 2020 đối với bị cáo Hoàng Chẻng S. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2020/HS-ST ngày 11/02/2020 của Toà án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Bị cáo kháng cáo:

Họ và tên: Hoàng Chẻng S, sinh năm 1996 tại tỉnh Đồng Nai; hộ khẩu thường trú: Ấp 9, xã Gia C, huyện Định Q, tỉnh Đồng Nai; tạm trú: Số 933, đường Huỳnh Văn L, Khu phố 7, phường P, thành phố, tỉnh Bình Dương; trình độ học vấn: 11/12; nghề nghiệp: không; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Minh T và bà Nguyễn Thị C bị cáo có vợ tên Phan Thùy D và có 01 người con sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 28/8/2019 đến ngày 06/12/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn (bảo lãnh) và tại ngoại cho đến nay.

Trong v án còn có 01 bị hại và 01 người có quyền lợi, nghĩa v liên quan nhưng không có kháng cáo và không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 15 phút ngày 28/8/2019, Hoàng Chẻng S đến nhà nghỉ M, địa chỉ tại Khu phố 2, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương do bà Ngô Thị H làm chủ để thuê phòng ngủ. Sau khi vào phòng, S nảy sinh ý định tìm tài sản trong nhà nghỉ lấy trộm bán để có tiền về quê thăm vợ và tiêu xài cá nhân. Khoảng 03 giờ 30 phút cùng ngày 28/8/2019, S đi đến quầy tiếp tân của nhà nghỉ để tìm tài sản lấy trộm; tại đây, S thấy 02 (hai) bóp da trong ngăn tủ của quầy tiếp tân nên lấy cất giấu vào trong người. Cùng lúc này, bà H đang ngủ gần đó nghe tiếng động nên tỉnh dậy thì nhìn thấy S gần quầy tiếp tân nên hỏi S đang làm gì, S trả lời là xuống trả phòng; do nghi ngờ nên bà H kêu S là đi nghỉ đến sáng hãy trả phòng. S quay lại phòng ngủ và m 02 chiếc bóp vừa trộm cắp được thì phát hiện trong 01 chiếc bóp có số tiền 4.792.000 đồng, chiếc bóp còn lại không có tiền mà chỉ có Giấy phép lái xe tên Nguyễn Thị H và một số giấy tờ khác. Sợ bị phát hiện nên S đã lấy số tiền 4.792.000 đồng cất giấu vào trong lỗ thông ống nước trong nhà vệ sinh của phòng nghỉ, còn 02 cái bóp và một số giấy tờ khác S ném xuống đường thoát nước trong nhà vệ sinh của phòng nghỉ. Bà H sau khi kêu S về phòng nghỉ thì kiểm tra lại quầy tiếp tân phát hiện bị mất 02 cái bóp bên trong có 4.792.000 đồng và một số giấy tờ tùy thân nên đã báo Công an phường P đến làm việc với S thì S thừa nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bà H, đồng thời chỉ chỗ cất giấu tiền và các tài sản khác cho Công an phường P biết. Công an phường P đã thu giữ toàn bộ tài sản S chiếm đoạt và chuyển hồ sơ v việc nêu trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T giải quyết theo thẩm quyền.

Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 258/KLĐG-TTHS ngày 29/8/2019 của Hội đồng định giá trong tố t ng hình sự thành phố T kết luận: 01 (một) ví tiền bằng da màu hồng trị giá 50.000 (năm mươi ngàn) đồng; 01 (một) ví tiền bằng da màu đen trị giá 50.000 (năm mươi ngàn) đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2020/HS-ST ngày 11/02/2020 của Toà án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 136, 260 và 333 của Bộ luật Tố t ng hình sự;

Tuyên bố bị cáo Hoàng Chẻng S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Hoàng Chẻng S 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được t nh từ ngày bắt bị cáo thi hành án được khấu trừ thời gian tạm giữ trước đây từ ngày 28/8/2019 đến ngày 06/12/2019.

Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 21/02/2020, bị cáo S làm đơn kháng cáo xin được hư ng án treo.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết v án: xác định tội danh, điều luật mà Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và áp d ng đối với các bị cáo Hoàng Chẻng S là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo xin được hư ng án treo. Xét thấy, tại cấp phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ hay điều kiện, hoàn cảnh náo mới để làm căn cứ xem xét cho hư ng án treo. Bị cáo là người không có nghề nghiệp ổn định và sử d ng ma túy nên cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo d c bị cáo và góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm. Do đó, mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên kháng cáo của bị cáo là không có căn cứ chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo Hoàng Chẻng S nói lời sau cùng: mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được hư ng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Đơn kháng cáo của bị cáo Hoàng Chẻng S được thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương giải quyết v án theo thủ t c phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hoàng Chẻng S đã khai nhận hành vi phạm tội thống nhất như nội dung bản án sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Do đó, có đủ cơ s xác định: khoảng 03 giờ 30 phút ngày 28/8/2019, tại nhà nghỉ M thuộc Khu phố 2, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Hoàng Chẻng S đã có hành vi lén lút chiếm đoạt số tiền 4.792.000 đồng; 01 (một) v tiền bằng da màu hồng trị giá 50.000 (năm mươi ngàn) đồng và 01 (một) v tiền bằng da màu đen trị giá 50.000 (năm mươi ngàn) đồng của bà Ngô Thị H. Hành vi của bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo S là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền s hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ; ảnh hư ng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của công dân là vi phạm pháp luật và sẽ bị trừng trị nhưng vì động cơ tham lam, tư lợi, bị cáo đã bất chấp hậu quả, cố ý thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện ý thức xem thường pháp luật. Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Hoàng Chẻng S kháng cáo xin được hư ng án treo, xét thấy: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự như Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định; chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đều khai nhận, bị cáo có sử d ng ma túy; dù đã được cha mẹ can ngăn, khuyên bảo nhưng bị cáo vẫn không từ bỏ được ma túy. Do đó, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo d c bị cáo, giúp bị cáo từ bỏ được ma túy và góp phần ngăn ngừa, đấu tranh phòng, chống tội phạm. Mức hình phạt 06 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo là không nặng, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hoàn cảnh của bị cáo nên kháng cáo của bị cáo xin được hư ng án treo là không có cơ s chấp nhận.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp.

Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Án ph hình sự phúc thẩm: do yêu cầu kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án ph hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố t ng hình sự năm 2015,

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Chẻng S. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2020/HS-ST ngày 11/02/2020 của Toà án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Áp d ng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Hoàng Chẻng S 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được t nh từ ngày bắt bị cáo thi hành án; được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 28/8/2019 đến ngày 06/12/2019.

2. Án ph hình sự phúc thẩm: áp d ng Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử d ng án ph và lệ ph Tòa án: bị cáo Hoàng Chẻng S phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ