- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LV TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2020/HNGĐ-ST Ngày: 18-9-2020 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LV, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Kiến.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Võ Kim Phượng;
2. Ông Lê Kim Lịnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Pha - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện LV, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện LV, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện LV xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 239/2020/TLST- HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2020 về "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 95/2020/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Phan Thị Yến T, sinh năm 1987; địa chỉ: Số 170 đường X, phường 2, thành phố L, tỉnh Đồng Tháp; Chị T có mặt tại phiên tòa.
Bị đơn: Anh Trương Minh T1, sinh năm 1992; địa chỉ: Số 101, ấp T, xã M, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp; Anh T1 vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 20 tháng 5 năm 2020 và trong quá trình xét xử, chị Phan Thị Yến T trình bày: Chị T và anh Trương Minh T1 do quen biết với nhau sau đó chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 2017 đến ngày 23/4/2019 thì đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp. Chị T và anh T1 chung sống hạnh phúc được một thời gian, đến tháng 9/2019 thì phát sinh mâu thuẫn và chính thức ly thân từ đó đến nay. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, anh T1 không quan tâm chăm sóc vợ con; anh T1 có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác ngoài chị T, sự việc này chị T chỉ biết qua đọc tin nhắn giữa anh T1 và người phụ nữ đó chứ chị T không có chứng cứ gì khác và cũng không yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ; mọi chi phí sinh hoạt nuôi con từ lúc sinh ra cho đến nay đều do chị T tự lo; từ khi ly thân đến nay anh T1 không có ý định hàn gắn tình cảm vợ chồng, nay chị T yêu cầu ly hôn với anh Trương Minh T1. Quá trình sống chung chị T và anh T1 có 01 con chung tên Trường Gia H, sinh ngày 27/02/2019 hiện đang sống với chị T. Chị T yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh T1 có nghĩa vụ đóng góp (cấp dưỡng) nuôi con chung cùng chị T. Vì từ khi ly thân đến nay anh T1 không có đến thăm con mặc dù con bị bệnh anh T1 cũng không quan tâm; chỉ có mẹ anh T1 rước cháu về nhà chơi chứ anh T1 chưa một lần nào đến rước con. Về chia tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản cho anh Trương Minh T1 nhưng anh T1 không có ý kiến cũng như không có mặt tại phiên tòa.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu:
+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng quy định của pháp luật.
+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
+ Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào tài liệu chứng cứ do đương sự cung cấp và Tòa án thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như kết quả tranh tụng tại phiên tòa, nhận thấy quan hệ hôn nhân của chị Phan Thị Yến T và anh Trương Minh T1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Đề nghị căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phan Thị Yến T. Giao con chung tên Trường Gia H, sinh ngày 27/02/2019 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng; tài sản và nợ chung không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Việc chị Phan Thị Yến T khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Trương Minh T1 là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, quy định tại Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quan hệ pháp luật tranh chấp giữa chị T và anh T1 thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện, quy định tại Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do anh T1 có địa chỉ cư trú tại số 101, ấp T, xã M, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp nên Tòa án nhân dân huyện LV, tỉnh Đồng Tháp thụ lý và giải quyết vụ án dân sự trên là đúng quy định tại Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với anh T1, Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng anh T1 vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm không lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh T1 là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hôn nhân
Theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình thì quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập, thực hiện theo quy định của Luật này được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Do vậy việc chị Phan Thị Yến T và anh Trương Minh T1 đăng ký kết hôn vào ngày 23/4/2019 theo giấy chứng nhận kết hôn số 28 của Ủy ban nhân dân xã M, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp đã tuân thủ quy định tại khoản 1 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình, nên được công nhận là vợ chồng hợp pháp.
Sau khi kết hôn, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau. Tuy nhiên sau khi kết hôn, từ việc tính tình vợ chồng không hợp nhau, anh T1 không cùng chị T chia sẻ công việc gia đình, anh T1 thường xuyên đi chơi không quan tâm chăm sóc vợ con và từ khi ly thân đến nay anh T1 không có ý định hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hành động và việc làm của anh T1 vi phạm tình nghĩa vợ chồng quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình, làm cho hôn nhân giữa chị T và anh T1 lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, từ đó dẫn đến mâu thuẫn giữa vợ chồng và xa nhau từ tháng 9 năm 2019 đến nay. Trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa, chị T không đồng ý đoàn tụ gia đình mà yêu cầu được ly hôn với anh T1.
Đối với anh T1, Tòa án đã tống đạt đầy đủ văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng anh T1 vắng mặt. Và anh T1 cũng được thông báo toàn bộ nội dung yêu cầu của chị T trong vụ án này nhưng anh T1 không gửi văn bản cho biết ý kiến, cũng không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án, điều đó cho thấy anh T1 đã bỏ mặc không quan tâm đến cuộc hôn nhân này và cũng không có thiện chí đoàn tụ để tiếp tục xây dựng hạnh phúc gia đình.
Từ những căn cứ trên xét yêu cầu ly hôn của chị T phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, nên được Tòa án chấp nhận và quyết định cho ly hôn giữa chị Phan Thị Yến T và anh Trương Minh T1.
Về nuôi con chung
Xét thấy cháu Trường Gia H, sinh ngày 27/02/2019 đúng là con chung của chị T và anh T1, được chị T thừa nhận và có giấy khai sinh của Trường Gia H để chứng minh. Thời gian chị T và anh T1 xa nhau, cháu H do chị T trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc con chu đáo, hiện cháu H do chị T nuôi dưỡng phát triển bình thường như bao đứa trẻ khác cùng trang lứa. Vì vậy, xét yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Trường Gia H của chị T là có căn cứ, phù hợp Điều 81, 82 của Luật hôn nhân và gia đình, nên được Tòa án chấp nhận và quyết định giao con chung Trường Gia H, sinh ngày 27/02/2019 cho chị Phan Thị Yến T trực tiếp nuôi dưỡng.
Khi ly hôn chị T cùng các thành viên trong gia đình không cản trở anh T1 trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con con chung tên Trường Gia H là phù hợp Điều 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình, nên được Tòa án chấp nhận.
Do chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con, nên Tòa án không xem xét.
Về chia tài sản: Không yêu cầu Tòa án không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án không xem xét giải quyết.
Xét lời phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử và quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, 35, 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 4 Điều 96, Điều 147, Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9, Điều 19, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân
Cho ly hôn giữa chị Phan Thị Yến T và anh Trương Minh T1.
2. Về nuôi con chung
2.1. Giao con chung tên Trường Gia H, sinh ngày 27/02/2019 cho chị Phan Thị Yến T trực tiếp nuôi dưỡng (Cháu Trường Gia H hiện đang do chị T nuôi dưỡng).
2.2. Chị Phan Thị Yến T không yêu cầu anh Trương Minh T1 có nghĩa vụ đóng góp (Cấp dưỡng) nuôi con chung là cháu Trường Gia H, Tòa án không xem xét giải quyết.
2.3. Chị Phan Thị Yến T và các thành viên trong gia đình không được cản trở anh Trương Minh T1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
3. Về chia tài sản: Tòa án không xem xét giải quyết.
4. Về nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết.
5. Về án phí: Chị Phan Thị Yến T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn; nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số BI/2019/0005688 ngày 01 tháng 6 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện LV, tỉnh Đồng Tháp. Chị T đã nộp đủ án phí.
6. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh; - VKSND Huyện; - CCTHADS Huyện; - Các đương sự; - UBND xã M; (GCNKH số 28 ngày ĐK 23/4/2019) - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Văn Kiến |