vanban.org

Bản án 61/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 26/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn N phạm tội Vận chuyển hàng cấm.

Xử phạt bị cáo Đinh Văn N 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 26/9/2019. Giao bị cáo Đinh Văn N cho Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Văn N - Vận chuyển hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn N phạm tội Vận chuyển hàng cấm.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHI LĂNG
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2019/HS-ST
Ngày 26-9-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHI LĂNG, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Hương Giang.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phùng Thị Thu.

Bà Vy Thị Thu Trang.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số: 54/2019/TLST-HS, ngày 07 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2019/QĐXXST-HS, ngày 19 tháng 8 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 10/2019/HSST-QĐ, ngày 18 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:

Đinh Văn N, sinh ngày 02 tháng 8 năm 1976 tại huyện Ư, thành phố Hà Nội; nơi đăng ký thường trú: Xóm 9, thôn Đ, xã H, huyện Ư, thành phố Hà Nội; nơi đăng ký tạm trú và chỗ ở: Tổ 3, khu G, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đinh Văn C; con bà: Nguyễn Thị T; vợ Bùi Thị T; con: Có 02 con, lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 1999; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xét xử, chưa bị xử lý vi phạm hành chính; bị cáo bị tạm giữ tại nhà tạm giữ Công an huyện Chi Lăng từ ngày 27/4/2019 đến ngày 04/6/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh đến nay; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Bùi Thị T, sinh năm 1976; trú tại: Tổ 3, khu G, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Lê Quang Q; vắng mặt;

2. Anh Lê Thanh N; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ 40 phút ngày 27 tháng 4 năm 2019 tại Km 66 quốc lộ 1A thuộc thôn L, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Công an huyện Chi Lăng phối hợp với tổ tuần tra trạm Cảnh sát giao thông Tùng Diễn, Công an tỉnh Lạng Sơn dừng xe ôtô chở khách 16 chỗ, biển kiểm soát 29B-163.61 do anh Lê Quang Q điều khiển đi hướng Lạng Sơn – Hà Nội, phụ xe là anh Lê Thanh N. Kiểm tra, thu giữ trên xe: 10 hộp vỏ giấy có dây dẫn, tổng trọng lượng 29,8 kilôgam; 01 thùng bìa carton màu trắng - đỏ; 01 vali màu xám; 03 túi nilon màu đen và 34 túi nilon màu đỏ. Anh Lê Quang Q và anh Lê Thanh N khai nhận toàn bộ số hàng hóa bị thu giữ là của Đinh Văn N thuê vận chuyển từ ga Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn về quê của Đinh Văn N ở thôn Đ, xã H, huyện Ư, thành phố Hà Nội.

Tại Bản kết luận giám định số: 106/KL-PC09 ngày 29/4/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Các mẫu vật gửi giám định có chứa thuốc pháo, khi đốt gây ra tiếng nổ.

Tại Cơ quan điều tra Đinh Văn N đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như sau: Ngày 25 tháng 4 năm 2019 Đinh Văn N nảy sinh ý định mua pháo mang về quê sử dụng trong dịp nghỉ lễ 30/4 nên khoảng 16 giờ, Đinh Văn N điều kiển xe mô tô biển kiểm soát 12D1-182.09 là xe của chị Bùi Thị T (vợ Đinh Văn N) đi từ nhà đến ngã ba gần Đền M, thị trấn Đ, huyện C đổi 1.700.000đ lấy 450 nhân dân tệ tiền Trung Quốc. Sau đó Đinh Văn N đi lên cửa khẩu C, xã T, huyệnV, để xe ở bãi gửi xe rồi đi bộ theo đường mòn sang chợ Lũng Vài, Trung Quốc với mục đích mua pháo. Tại đây Đinh Văn N vào một cửa hàng bán pháo và hỏi một người phụ nữ không quen biết thì được người này giới thiệu gặp một người phụ nữ khác khoảng 40 tuổi không quen biết nói được tiếng Việt Nam. Đinh Văn N mua với người phụ nữ này 10 hộp pháo giàn loại 36 quả/giàn với giá 150 nhân dân tệ và 400 quả pháo trứng với giá 300 nhân dân tệ. Sau khi trả tiền, người phụ nữ này cho toàn bộ số pháo vào bao tải dứa, Đinh Văn N lấy thêm 08 quả pháo trứng cho vào bao tải sau đó vác bao tải dứa chứa pháo đi bộ theo đường mòn về Việt Nam đến chỗ để xe mô tô, Đinh Văn N cho bao tải buộc lên xe và điều khiển xe về cất giấu tại tường rào gần toa xe lửa hỏng ở khu vực ga Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Đến khoảng 09 giờ ngày 27 tháng 4 năm 2019, Đinh Văn N đi từ nhà đến chỗ cất pháo và vác bao tải pháo về nhà lúc này không có ai. Đinh Văn N xếp 06 hộp pháo giàn loại 36 quả/giàn và một chiếc túi xách màu đen, 04 hộp pháo giàn loại 36 quả/giàn và 60 quả pháo trứng vào thùng bìa carton màu trắng đỏ, số pháo trứng còn lại cho vào valy màu xám. Đến 12 giờ 42 phút cùng ngày, Đinh Văn N gọi điện cho anh Lê Quang Q đến khu Ga, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn để vận chuyển hàng cho Đinh Văn N với phí 200.000đ. Khi giao hàng cho anh Lê Thanh N, Lê Quang Q, bị cáo Đinh Văn N nói hàng hóa là sách vở, quần áo gửi về quê, anh Lê Quang Q và anh Lê Thanh N khi nhận hàng không kiểm tra hàng hóa. Khi xe ô tô biển kiểm soát 29B-163.61 do anh Lê Quang Q điều khiển đi đến km 66 quốc lộ 1A thuộc địa phận thôn L, thị trấn C thì bị kiểm tra, thu giữ toàn bộ vật chứng.

Cáo trạng số: 59/CT-VKSCL ngày 06 tháng 8 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Đinh Văn N về tội Vận chuyển hàng cấm theo quy định tại điểm k khoản 2 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo Đinh Văn N khẳng định bị truy tố, xét xử về tội Vận chuyển hàng cấm như tại Cơ quan Điều tra là đúng, không oan. Bị cáo khai một mình sang Trung Quốc mua 29,8 kg pháo nổ của một người phụ nữ không quen biết với mục đích để đốt, ngoài ra không có mục đích gì khác. Chị Bùi Thị T không biết việc bị cáo vận chuyển pháo bằng xe mô tô của chị. Anh Lê Quang Q và anh Lê Thanh N không biết bị cáo gửi pháo nổ về quê. Bị cáo thực hiện hành vi mua, vận chuyển pháo nổ một mình, không có người giúp sức.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, đồng thời đánh giá tính chất, động cơ, mục đích, tác hại của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, đánh giá về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng áp dụng đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đinh Văn N phạm tội Vận chuyển hàng cấm; Áp dụng điểm k khoản 2 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 50, 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, xử phạt bị cáo Đinh Văn N từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù, cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định, không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 vali màu xám, 02 sim điện thoại; tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen.

Phần tranh luận: Không ai có ý kiến tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo đã khai rõ toàn bộ hành vi phạm tội như tại cơ quan Điều tra, lời khai của bị cáo Đinh Văn N phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, cụ thể: Bị cáo Đinh Văn N có mục đích mua pháo nổ về để đốt trong dịp Lễ 30/4 nên ngày 25 tháng 4 năm 2019 bị cáo sang khu vực chợ Lũng Vài, Trung Quốc bằng xe máy biển kiểm soát 12D1-182.09 để mua 10 hộp pháo loại 36 quả/giàn và 408 quả pháo trứng, tổng trọng lượng 29,8kg. Đến ngày 27 tháng 4 năm 2019, bị cáo vận chuyển toàn bộ số pháo đã mua đến khu vực thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn để gửi xe ôtô khách biển kiểm soát 29B-163.61 do anh Lê Quang Q điều khiển đem về quê ở Hà Nội với mục đích đốt trong dịp nghỉ lễ 30/4 – 01/5. Khi xe ôtô khách biển kiểm soát 29B-163.61 đi đến km 66 quốc lộ 1A thuộc địa phận thôn L, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn thì bị Công an huyện Chi Lăng kiểm tra thu giữ toàn bộ số pháo nổ. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Đinh Văn N phạm tội Vận chuyển hàng cấm, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm k khoản 2 Điều 191 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

[3] Về tình tiết định khung: Do bị cáo Đinh Văn N có hành vi vận chuyển 29,8kg pháo nổ từ khu vực chợ Lũng Vài, Trung Quốc về Việt Nam nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung là vận chuyển qua biên giới quy định tại điểm k khoản 2 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.

[4] Hành vi của bị cáo Đinh Văn N là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về kinh tế. Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản cấm sản xuất, vận chuyển, buôn bán và đốt các loại pháo. Bị cáo Đinh Văn N là người có thể chất phát triển bình thường, có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi vận chuyển pháo nổ là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích sử dụng để đốt trong dịp nghỉ lễ nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự và an toàn xã hội.

[5] Để cá thể hoá hình phạt, ngoài việc xem xét tính chất, hành vi phạm tội nêu trên thì còn phải xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ để quyết định hình phạt. Về nhân thân: Bị cáo Đinh Văn N là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; ngoài lần phạm tội này, bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách, pháp luật tại địa phương, việc này đã được Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện C là nơi bị cáo cư trú xác nhận nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tình tiết tăng nặng: Không có.

[6] Từ những phân tích trên, xét thấy bị cáo Đinh Văn N là người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng, có nơi cư trú rõ ràng, ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách của Đảng và pháp luật tại địa phương, bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo nên Hội đồng xét xử thấy không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù vì bị cáo có khả năng tự cải tạo tại địa phương, việc cho bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà vẫn đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời cũng thể hiện được sự khoan hồng của pháp luật.

[7] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo vì không có khả năng thi hành, điều này phù hợp với kết quả xác minh của Cơ quan điều tra Công an huyện Chi Lăng và phù hợp với lời khai của bị cáo.

[8] Đối với người phụ nữ đã giới thiệu và bán pháo cho Đinh Văn N ở chợ Lũng Vài, Trung Quốc, do không có thông tin nên không thể tiến hành điều tra, xác minh.

[9] Đối với chị Bùi Thị T là chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12D1-182.09, chị Thoa hoàn toàn không biết việc bị cáo Đinh Văn N sử dụng xe mô tô của chị để vận chuyển pháo nên không xem xét xử lý.

[10] Đối với anh Lê Quang Q và anh Lê Thanh N là lái xe và phụ xe ô tô khách biển kiểm soát 29B-163.61 nhận vận chuyển hàng hóa cho Đinh Văn N không biết hàng hóa đó là pháo nổ nên không xem xét, giải quyết.

[11] Về vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện Chi Lăng tiến hành tiêu hủy toàn bộ số pháo nổ còn lại sau giám định, 01 thùng bìa carton màu trắng đỏ, 01 chiếc túi xách màu đen, 03 túi nilon màu đen, 34 túi nilon màu đỏ là có căn cứ. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia của bị cáo Đinh Văn N vì có liên quan đến hành vi phạm tội. Đối vơi chiếc vali màu xám và 02 sim điện thoại là những vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội nhưng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[12] Cáo trạng số: 59/CT-VKSCL ngày 06 tháng 8 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Đinh Văn N theo tội danh và điều khoản trong Bộ luật Hình sự như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị về tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo Đinh Văn N và xử lý vật chứng là có căn cứ.

[13] Về án phí: Do bị cáo Đinh Văn N bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm k khoản 2 Điều 191; điểm s khoản1, khoản 2 Điều 51; các Điều 47; 50; 65 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn N phạm tội Vận chuyển hàng cấm.

Xử phạt bị cáo Đinh Văn N 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 26/9/2019. Giao bị cáo Đinh Văn N cho Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp bị cáo Đinh Văn N thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Xử lý vật chứng: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen; tịch thu và tiêu hủy 01 chiếc vali màu xám và 02 sim điện thoại.

(theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Công an huyện Chi Lăng và Chi cục thi hành án dân sự huyện Chi Lăng ngày 07/8/2019).

Về án phí: Bị cáo Đinh Văn N phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm hình sự để nộp ngân sách nhà nước.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ