vanban.org

Bản án 61/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Xin ly hôn” của anh Võ Trung H. Anh Võ Trung H và chị Đinh Thị Thùy Tr được ly hôn với nhau.

Về con chung: Giao cho anh Võ Trung H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Võ Đinh Phi V, sinh ngày 22/12/2012 cho đến tuổi thành niên. Giao cho chị Đinh Thị Thùy Tr trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Võ Quốc Đ, sinh ngày 25/7/2014 cho đến tuổi thành niên. Việc quyết định thay đổi ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Võ Trung H xin ly hôn chị Đinh Thị Thùy Tr"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Xin ly hôn” của anh Võ Trung H. Anh Võ Trung H và chị Đinh Thị Thùy Tr được ly hôn với nhau.
  • Căn cứ chính? Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số:61/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 29 - 10 - 2019
V/v: “Xin ly hôn”

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Thanh Duyên

Ông Mai Phú

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Vân Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt.

Ngày 29 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 578/2019/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 9 năm 2019 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Võ Trung H, sinh năm: 1984

HKTT: Số 44/2 đường Hai Bà Trưng, Phường F, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Tạm trú: 9B đường Đồng Tâm, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.

- Bị đơn: Chị Đinh Thị Thùy Tr, sinh năm: 1990

HKTT: Số 44/2 đường Hai Bà Trưng, Phường F, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Tạm trú: Đội 8, thôn Điện Bàn 3, xã Ng, huyện Tư Ng, tỉnh Quảng Ngãi.

(Anh H có mặt, chị Tr có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn anh Võ Trung H và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì:

Anh Võ Trung H và chị Đinh Thị Thùy Tr đăng ký kết hôn vào năm 2012, tại Ủy ban nhân dân Phường F, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới. Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại nhà số 01Bis, đường Phan Đình Phùng, Phường B, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng, sau đó chuyển về số 9B đường Đồng Tâm, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Cuộc sống chung hạnh phúc đền năm 2019 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do chi Trang không có trách nhiệm với gia đình, bỏ bê con cái. Ngoài ra, chị Tr còn có mối quan hệ bất chính với người đàn ông khác, không tôn trọng bố mẹ chồng. Anh H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên xin được ly hôn với chị Đinh Thị Thùy Tr.

- Về con chung: Anh H xác định có 02 con chung là Võ Đinh Phi V, sinh ngày 22/12/2012 và Võ Quốc Đ, sinh ngày 25/7/2014. Ly hôn, anh H yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Võ Đinh Phi V. Giao cháu Võ Đinh Quốc Đ cho chị Tr chăm sóc, nuôi dưỡng. Không yêu cầu chị Tr cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Anh H xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo bản tự khai của bị đơn chị Đinh Thị Thùy Tr và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thì:

Chị Tr và anh Võ Trung H kết hôn và chung sống với nhau như anh H trình bày là đúng. Hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới. Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại nhà số 01Bis, đường Phan Đình Phùng, Phường B, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng, sau đó chuyển về số 9B đường Đồng Tâm, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Cuộc sống chung hạnh phúc đến năm 2019 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không tôn trọng lẫn nhau; không có sự hòa hợp. Sau thời gian dài cảm thấy không thể hàn gắn được tình cảm nên chị Tr cũng đồng ý ly hôn.

- Về con chung: Chị Tr xác định có 02 con chung là Võ Đinh Phi V, sinh ngày 22/12/2012 đang ở với bố và Võ Quốc Đ, sinh ngày 25/7/2014, đang ở với mẹ. Ly hôn, chị Tr yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Võ Quốc Đ, đồng ý giao con Võ Đinh Phi V cho anh H chăm sóc, nuôi dưỡng. Không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Tr xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án không tiến hành hòa giải được vì chị Tr vắng mặt.

Tại phiên tòa, anh Võ Trung H vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với chị Đinh Thị Thùy Tr. Đồng thời, yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Võ Đinh Phi V, sinh ngày 22/12/2012; giao cho chị Tr trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Võ Quốc Đ, sinh ngày 25/7/2014 cho đến tuổi trưởng thành; không yêu cầu chị Tr cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, chị Đinh Thị Thùy Tr có đến Tòa án làm việc và có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự , Tòa án nhân dân thành phố Đ tiến hành xét xử vắng mặt chị Tr.

Về nội dung vụ án: Anh Võ Trung H và chị Đinh Thị Thùy Tr đăng ký kết hôn vào năm 2012, tại Ủy ban nhân dân Phường F, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới. Cuộc sống chung hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm; vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc, tôn trọng lẫn nhau. Chị Tr có đơn xin xét xử vắng mặt và cũng đồng ý ly hôn với anh H; điều kiện hàn gắn tình cảm là khó có thể thực hiện; mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh H, cho anh H được ly hôn với chị Tr là phù hợp.

Về con chung: Cả hai xác định vợ chồng có hai con chung là Võ Đinh Phi V, sinh ngày 22/12/2012 và Võ Quốc Đ, sinh ngày 25/7/2014. Ly hôn, anh H yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Võ Đinh Phi V cho đến tuổi trưởng thành, anh H đồng ý giao con tên Võ Quốc Đ cho chị Tr trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; chị Tr cũng đồng ý. Xét thấy, hiện nay cháu V đang ở với bố, cháu Đ đang ở với mẹ, để không ảnh hưởng đến nếp sinh hoạt hàng ngày và tinh thần của các con nên giao con chung Võ Đinh Phi V cho anh H; giao con chung Võ Quốc Đ cho chị Tr trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh H và chị Tr không ai yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh H và chị Tr xác định không có, không yêu cầu xem xét.

Về án phí: Anh Võ Trung H phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39 và khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 51; 53; 54; 56; 81và 82 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Xin ly hôn” của anh Võ Trung H. Anh Võ Trung H và chị Đinh Thị Thùy Tr được ly hôn với nhau.

Về con chung: Giao cho anh Võ Trung H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Võ Đinh Phi V, sinh ngày 22/12/2012 cho đến tuổi thành niên. Giao cho chị Đinh Thị Thùy Tr trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Võ Quốc Đ, sinh ngày 25/7/2014 cho đến tuổi thành niên.

Việc quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, cấp dưỡng nuôi con và thăm nom con được thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về án phí: Anh Võ Trung H phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) anh H đã tạm nộp theo biên lai thu số 0012563 ngày 09 tháng 9 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đt. Anh H đã nộp đủ.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh H có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử theo trình tự phúc thẩm. Riêng chị Tr có quyền kháng cáo trong thời hạn nêu trên kể từ ngày nhận được bản sao hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. /.

Cỡ chữ