- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân:
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2019/HNGĐ-ST Ngày: 15-8-2019 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy An
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Võ Ngọc Ba
2/ Bà Nguyễn Thị Mến
- Thư ký phiên tòa: Bà Thạch Thị Tuyền- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Phƣơng Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 187/2019/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Vỏ Thị Bé T, sinh năm 1983. (vắng mặt)
2. Bị đơn: Anh Phạm Văn T, sinh năm 1977. (vắng mặt)
Cùng địa chỉ cư trú: ấp C, xã Th, huyện Tr, tỉnh Vĩnh Long.
3. Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị X. (vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: ấp C, xã Th, huyện Tr, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 30/5/2019, nguyên đơn chị Vỏ Thị Bé T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh T kết hôn vào năm 2002, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Th, huyện Tr, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 01/8/2002. Trong cuộc sống hôn nhân thời gian dài xảy ra nhiều mâu thuẫn gay gắt không thể hòa giải được, vợ chồng không thể sống chung, giữa chị và anh T không thể duy trì cuộc hôn nhân. Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh T.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Phạm Thanh T, sinh ngày 03/5/2002 hiện đang sống chung với anh T, chị đồng ý để anh T được tiếp tục nuôi con chung, chị tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000đ cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung: 01 xe mô tô biển số 52R-0115 giao anh T tiếp tục sử dụng. Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
Tại bản tự khai ngày 02/7/2019, bị đơn anh Phạm Văn T trình bày: Anh và chị T kết hôn vào năm 2002, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Th, huyện Tr, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 01/8/2002. Trong lúc anh đi làm thì vợ anh bỏ đi, anh xin được đoàn tụ. Về con chung nếu Tòa án giải quyết cho ly hôn thì con chung anh đồng ý tiếp tục nuôi con chung, anh đồng ý vợ anh cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000đ cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Về tài sản chung tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết. Về nợ chung không có.
Tại biên bản lấy lời khai của người làm chứng ngày 09/7/2019, người làm chứng bà Nguyễn Thị X trình bày: Bà là mẹ ruột của anh T, giữa chị T và anh T có cự cải qua lại, chị T bỏ nhà đi, bà có khuyên chị T quay về để lo cho con nhưng chị T không đồng ý, chị T bỏ đi khoảng giữa Tháng Giêng năm 2019 âm lịch đến nay. Về con chung có 01 con chung hiện đang sống chung với anh T, cháu T được học hành ổn định, cuộc sống cũng đảm bảo.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt (có đơn xin vắng mặt), bị đơn vắng mặt (không lý do), người làm chứng vắng mặt (có ý kiến xin vắng mặt).
Ý kiến của Viện kiểm sát:
- Về trình tự, thủ tục tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng thể hiện trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa hoàn toàn đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng không có ý kiến về nội dung mà nguyên đơn khởi kiện, không tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án, không thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với người làm chứng có ý kiến trình bày xin vắng mặt tại phiên tòa, đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về quan hệ hôn nhân chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Vỏ Thị Bé T, xử cho chị T ly hôn với anh Phạm Văn T. Về con chung: Giao con chung tên Phạm Thanh T, sinh ngày 03/5/2002 cho anh Phạm Văn T tiếp tục nuôi dưỡng. Chị Vỏ Thị Bé T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000đ cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về án phí sơ thẩm: Chị Vỏ Thị Bé T phải nộp theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cụ thể chị T phải nộp 300.000đ án phí ly hôn và 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con, tổng cộng buộc chị T nộp 600.000đ nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) chị T đã nộp theo biên lai thu số 0015391 ngày 30/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trà Ôn, còn lại 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) buộc chị T phải nộp tiếp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền, quan hệ tranh chấp: Căn cứ đơn khởi kiện của chị Vỏ Thị Bé T yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tr, tỉnh Vĩnh Long giải quyết ly hôn với anh Phạm Văn T cư trú ấp C, xã Th, huyện Tr, tỉnh Vĩnh Long. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án có quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tr, tỉnh Vĩnh Long.
Nguyên đơn Vỏ Thị Bé T có đơn xin vắng mặt ngày 30/5/2019, bị đơn anh Phạm Văn T được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng bị đơn vẫn vắng mặt lần thứ 2 không lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Người làm chứng bà Nguyễn Thị X vắng mặt tại phiên tòa nhưng bà X đã có lời khai trực tiếp với Tòa án và xin vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào khoản 2 Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt người làm chứng.
Về nội dung:
Về hôn nhân:
Chị Vỏ Thị Bé T và anh Phạm Văn T thành hôn có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Th, huyện Tr, tỉnh Vĩnh Long cấp giấy chứng nhận kết hôn số 58 vào ngày 01/8/2002 nên xem quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh T là hợp pháp.
Xét trong quá trình chung sống vợ chồng giữa chị T và anh T thời gian đầu có hạnh phúc, sau phát sinh mâu thuẫn, sống không hạnh phúc, vợ chồng thường cải vả nhau và tại biên bản lấy lời khai người làm chứng bà Nguyễn Thị X là mẹ ruột của anh T cũng xác định giữa chị T và anh T có cự cải qua lại, chị T bỏ nhà đi, bà có khuyên chị T quay về để lo cho con nhưng chị T không đồng ý. Như vậy cho thấy tình cảm giữa chị T và anh T không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên xét yêu cầu ly hôn của chị T là có cơ sở phù hợp Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Xét thấy con chung Phạm Thanh T, sinh ngày 03/5/2002 hiện đang sống trực tiếp với anh T, cuộc sống cũng đảm bảo, cháu T cũng có nguyện vọng sống chung với anh T. Chị T đồng ý để anh T được tiếp tục nuôi con chung, chị T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000đ cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh T đồng ý tiếp tục nuôi con chung, đồng ý mức cấp dưỡng nuôi con 1.000.000đ/tháng. Nên Hội đồng xét xử xét giao con chung cho anh T được tiếp tục nuôi dưỡng. Chị T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000đ (Một triệu đồng). Thời hạn cấp dưỡng nuôi con tính từ ngày 15/8/2019 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở là phù hợp các Điều 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Vỏ Thị Bé T và anh Phạm Văn T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Vỏ Thị Bé T phải nộp theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và tại Điều 6, điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp theo quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 2 Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 6, điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân:
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Vỏ Thị Bé T. Xử cho chị T ly hôn với anh Phạm Văn T.
2. Về con chung:
Giao con chung tên Phạm Thanh T, sinh ngày 03/5/2002 cho anh Phạm Văn T tiếp tục nuôi dưỡng. Chị Vỏ Thị Bé T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000đ (Một triệu đồng). Thời hạn cấp dưỡng nuôi con tính từ ngày 15/8/2019 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về tài sản chung, nợ chung:
Chị Vỏ Thị Bé T và anh Phạm Văn T tự thỏa thuận, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc chị Vỏ Thị Bé T nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn và 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con. Tổng cộng buộc chị T nộp 600.000đ (sáu trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) chị T đã nộp theo biên lai thu số 0015391 ngày 30/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tr, còn lại 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) buộc chị T phải nộp tiếp.
5. Về quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nôi nhaän: - TAND tænh Vĩnh Long; - VKSND huyeän Tr; - THADS huyeän Tr; - UBND xã Th, huyện Tr, tỉnh Vĩnh Long (Giấy chứng nhận kết hôn số 58 ngày 01/8/2002); - Caùc ñöông söï; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Thúy An |